LÂM ĐẠI NGỌC NGHE HÁT

February 8, 2008 at 6:18 am | Posted in HỒNG LÂU MỘNG | Leave a comment

Tác giả Hồng Lâu Mộng rất sành về sự lợi dụng những hí khúc cổ điển để khắc hoạ tính cách nhân vật, hướng độc giả hiểu rõ thế giới nội tâm phức tạp của nhân vật, hồi thứ hai mưới ba của Hồng lâu Mộng (HLM) : ”Nghe khúc hát Mẫu Đơn Đình, chạnh lòng hờn tủi” là một ví dụ nổi bật.
Mẩu chuyện ấy chủ yếu khắc hoạ sự chuyển biến tâm lý của Lâm Đại Ngọc, tác giả tả rất cụ thể, rất tinh tế, rất tự nhiên và cũng rất sâu sắc, đọc hoài không chán, càng đọc càg thấy mới, làm động lòng người đọc xưa nay, khiến chúng ta không khỏi nhỏ lệ ngậm ngùi cho Lâm Đại Ngọc.
Đoạn văn tả lâm Đại Ngọc trong lòng sầu muộn, muốn trở về phòng. Tình cờ nàng nghe tiếng sáo du dương, lời ca uyển chuyển từ viện Lê Hương truyền ra, nàng biết mười hai cô bé đang tập diễn tuồng. Đại Ngọc bình thường vốn không thích nghe tuồng, nhưng lúc này hai câu hát của Đỗ Lệ Nương trong Mẫu Đơn đình văng vẳng bên tai:
“Trước sao hồng tía đua chen,
Giờ sao giếng lấp tường nghiêng thế này.”
Hai câu hát vô tình nghe được có sức hấp dẫn mạnh mẽ Lâm Đại Ngọc, nàng dừng bước lắng nghe và khi nghe đến vai Liễu Mộng Mai hát đến câu “Bởi nàng người đẹp như hoa, tuổi trôi như nước…” thế là nàng nhập hẳn vào vở tuồng, bất giác bồi hồi xúc động. Đặc biệt khi nghe câu “thương mình ở chốn thâm khuê” lại càng như ngây như dại, đứng không vững nữa, bèn ngồi trên hòn đá ngẫm nghĩ ý vị tám chữ “người đẹp như hoa, tuổi trôi như nước”. Rồi tâm tư dâng trào, lát sau lại nhớ đến câu thơ cổ của Thôi Đồ “nước chảy hoa tàn khéo vô tình” và của Lý Dục “nước chảy hoa trôi xuân đã hết, trên đời cõi tục…”. đồng thời lại nhớ đến Thôi Oanh Oanh trong Tây Sương Ký hát câu :
Hoa trôi dòng nước đỏ ngòm
Muôn sầu vơ vẩn héo hon lòng này
Bao nhiêu câu thơ buồn rầu ai oán, triềm miên đau khổ lúc này đều trào dâng trong tâm tưởng Đại Ngọc khiến nàng xưa nay vốn đa bệnh, lại mất người thân không nơi nương tựa, bất đắc dĩ phải sống ở nhà bà ngoại, bất giác tâm thần ngơ ngẩn, lòng luống bi thương, nước mắt giàn giuạ, đau khổ muôn phần.
Nếu để ý đến kỹ xảo nghệ thuật, chúng ta thấy mẩu chuyện trên đây chú trọng đến thủ pháp thoái để mà tiến, ép để mà dương, tầng tầng uốn khúc, vòng vèo mà tiến, liên tiếp dần sâu.
Trước hết, mẩu chuyện tả Lâm Đại Ngọc vốn không thích xem tuồng, vốn không để ý nghe hát tuồng, nhưng bỗng lại bị lời ca hấp dẫn, bất giác dừng lại lắng nghe, rồi lại bị lời ca hay đẹp lôi cuốn, lại rơi nhập vào vở tuồng, rồi nhân đó nàng nhớ những câu thơ, bài từ, câu tuồng than vãn về thời gian năm tháng như nước chảy hoa trôi mà nàng đã từng nghe, từng đọc, cuối cùng bi thương, đau khổ nhớ về người thân, nước mắt dâng trào như ngây như dại. Có thể nói ban đâu là từng đợt sóng lăn tăn, tiếp theo là sóng lớn lan tỏa, lớp lớp va đập, đợt đợt lấn tràn, khiến người đọc dần dần thấy được sự biền chuyển nội tâm của cô con gái nhà quý tộc đa sầu đa cảm không nơi nương tựa, cô độc cô liêu .
Từ chỗ Đại Ngọc nghe khúc hát đặc sắc của câu chuyện trên, chúng ta dễ dàng liên tưởng đến hai nhà thơ lớn đời Đường là Hàn Dũ với bài “Nghe Dĩnh sư đánh đàn” (Thính Dĩnh sư đàn cầm) và Bạch Cư Dị với bài “Tỳ bà hành”. Hàn Dũ tả :
“Ta dư hữu lưỡng nhĩ,
Vị tỉnh thính ti hoàng
Tự văn Dĩnh sư đàn,
Khởi toạ tại nhất bàng,
Thọi thủ cự chỉ chi,
Thấp y lệ bàng bàng,
Dĩnh hồ nhĩ thành năng,
Vô dĩ băng thán trí ngã trường”
Tạm dịch :
Thương thay hai lỗ tai ta
Trúc ti cũng đã nghe qua lắm lần
Từ nghe sư Dĩnh đàn cầm
Đứng ngồi thấp thỏm muôn phần chẳng yên
Tay đàn sao bỗng ngưng liền
Lệ đâu thấm áo nỗi niềm cảm thông
Sư Dĩnh ôi ! Tài vô cùng
Nói sao cho hết nỗi lòng trái ngang.
Bài thơ nhằm tả cái hay tuyệt với của khúc đàn do Sư Dĩnh diễn tấu, tiếp theo tả sự biến chuyển tình cảm của mình sau khi nghe khúc nhạc, tả rất rõ ràng, rất tự nhiên; nhưng vì sao khúc nhạc ấy gây nên xúc động trong lòng tác giả thì bài thơ không nói đến, cho nên thiếu đi nét biểu hiện sâu sắc, tế nhị của cảm xúc. Vả lại, bài thơ chỉ dừng ở chỗ miêu tả bản thân khúc nhạc chứ chưa nhân đó mà liên tưởng đến những điều gì khác. Do đó bài thơ trên không đạt bằng “Hồng Lâu Mộng” tả Lâm Đại Ngọc nghe nhạc.
Trong Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị tả người ca nữ chơi đàn tỳ bà lại mang một sắc thái khác, trước tiên tả tiếng nhạc nghe được một cách bất chợt khiến cho người nghe giật mình:
“Hốt văn thuỷ thượng tì bà thanh
Chủ nhân vong quy khách bất phát.
Tầm thanh ám vấn đàn giả thuỳ
Tỳ bà thanh đình dục ngữ trì
Di thuyền tương cận yêu tương kiến
Thiêm tửu hồi đăng trùng khai yến
Thiên hô vạn hoán thuỷ xuất lai
Do bảo tỳ bà bán già diện.”
Tạm dịch:
Tiếng tỳ nghe vẳng bên sông,
Chủ khuây khoả lại, khách dùng dằng xuôi
Lần tiếng sẽ hỏi ai đàn tá
Dừng dây tơ nấn ná làm thinh
Dời thuyền ghé lại thăm tình
Chong đèn thêm rượu còn dành cuộc vui
Mời mọc mãi thấy người bỡ ngỡ
Tay ôm đàn che nửa mặt hoa
(…)Tiếp theo, nhà thơ tả tiếng đàn mê ly của người ca nữ. Kết thúc khúc đàn, nhà thơ viết :
Đông thuyền tây phảng tiêu vô ngôn
Duy kiến giang tâm thu nguyệt bạch.
(Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt
Một vầng trăng trong vắt dòng sông)
(…)Sau hết, nhà thơ tả nỗi xúc động do khúc đàn tạo nên

CHIM – HOA và tên nhân vật
(Trích Mạn đàm HLM)

Tên gọi nhân vật trong “Hồng Lâu Mộng” là điều rất đáng chú ý. ví dụ như tên một vài loại chim, loại hoa thông thường qua ngòi bút của Tào Tuyết Cần sẽ trở thành tên gọi cho những nhân vật của mình, hoặc dùng để ngụ ý yêu ghét, khen chê, hoặc dùng ẩn dụ số phận, tính cách của nhân vật, rất đáng được suy ngẫm. Như tên Uyên Ương, Tử Quyên chẳng hạn.
Uyên Ương được xem là nhân vật khá quan trọng của “hồng Lâu Mộng”. Nàng là một a hoàn kề cận của Giả Mẫu, rất được Giả Mẫu tin yêu, không rời Giả Mẫu nữa bước. Tại sao tác giả đặt cho nàng cái tên như thế? Đây là vấn đề không đơn giản. Chúng ta biết Uyên Ương là loại chim luôn sống thành đôi, con trống con mái không tách rời nhau. Trong những tác phẩm văn học, uyên ương thường được dùng để tượng trưng cho vợ chồng hay dùng để ca ngợi tình yêu trinh thục, thủy chung. Lư Chiếu Lân đời Đường có thơ rằng:

Đắc thành tỉ mục hà từ tử
Nguyện tác uyên ương bất tiển tiên.

Tạm dịch:

Được làm tỉ mục nào sợ chết
Muốn giống uyên ương chẳng cầu tiên.

Hoặc Lý Thương Ẩn trong bài “Đại tặng” có câu:

Uyên Ương khả tiển đầu câu bạch,
Phi khứ phi lai yên vũ thu.”

Tạm dịch:

Đáng phục uyên ương cùng đầu bạc,
lượn lờ vui thú khói mưa thu.

Uyên Ương tượng trưng cho đời sống ân ái mỹ mãn, thủy chung. Thế nhưng số phận của cô a hoàn Uyên Ương trong HLM lại tương phản với loài chim uyên ương. Lẽ nào Tào Tuyết Cần đặt sai tên cho nhân vật của mình? Đương nhiên là không phải, đây chính là ngụ ý mà tác giả muốn gởi gắm. Nhân vật Uyên ương được miêu tả nhiều chỗ trong HLM, ở 80 hồi đầu của tác phẩm có ít nhất 3 hồi trực tiếp nhắc đến Uyên ương. Hồi thứ 41 với tiêu đề “Vườn Đại Quan hai lần sử thái quân mở tiệc, gieo xúc xắc Uyên Ương ra lệnh đố thơ” (Sử Thái Quân lưỡng yến Đại Quan Viên, Kim Uyên Ương tam tuyên nha bài lệnh) Hồi thứ 46 có tiêu đề “Người hiềm khích cố gây hiềm khích, gái Uyên ương vô tình gặp Uyên Ương” (hiềm khích nhân hữu tâm sanh hiềm khích, Uyên Ương nữ vô ý ngộ uyên ương). Trong hai hồi sau có hai đoạn tình tiết quan trọng về nhân vật Uyên ương, đối chọi nhau kịch liệt. Uyên Ương là loài vật sống có đôi có cặp không rời nhau còn Uyên Ương trong HLM lại muốn “thề dứt bạn uyên ương”, “vô tình gặp uyên ương”. Xem ra tác giả đặt tên nhân vật này là có thâm ý.
“Gái uyên ương thế dứt bạn uyên ương” là nói đến nhân vật Uyên Ương của “Hồng Lâu Mộng” có một sắc thái rất đặc biệt khiến người ta phải tán thưởng hành vi của cô, đó là một tình tiết quan trọng biểu hiện tính cách và tư tưởng của cô. Nguyên nhân vủa sự việc là do Giả Xá, ông anh cả ở bên phủ Ninh Quốc, thấy bên cạnh mẹ mình (Giả Mẫu) có cô a hoàn uyên ương xinh đẹp nên sai vợ là Hình phu nhân đích thân làm mối xin cưới uyên ương về làm thiếp. Ở thời đại của HLM, một lão gia của gia đình quí tộc có năm thê bảy thiếp là chuyện bình thường, làm vợ lẽ không bị coi là ngượng mặt. Nhất là đối với lại a hoàn như Uyên Ương được ông chủ cưới về làm thiếp chính là con đường thoát khỏi cảnh nô bộc. Như Vương Hy Phượng nói: “Đừng nói là con Uyên Ương, dù ai đi nữa cũng chẳng muốn trèo cao trông lên để mong được mơ mày mở mặt hay sao? Nó bỏ danh giá nửa bà chủ không làm mà đâm đầu đi làm a hoàn rồi sau này lấy một thằng ranh con, thế là xong đời.” Còn Hình phu nhân cũng nói: “Không cứ gì con Uyên Ương, ngay cả đến những con a hoàn lớn coi việc ai mà chẳng thích được như thế?” và “Không lẽ cô không bằng lòng hay sao? Nếu vậy thì cô khờ dại quá không muốn làm bà chủ, lại muốn làm con hầu! Vài ba năm nữa, bất quá cô lấu một thằng bé con, đầy tớ lại hoàn đầy tớ!” Những lời nói ấy dưới con mắt của người đời xem ra đêu có tình có lý làm địa vị của một nữa bà chủ xem ra rất hấp dẫn, thử hỏi có ai không muốn nào? Thế mà không ngờ Uyên Ương lại từ chối đấy. uyên Ương nói rất rõ: “Đừng có nói ông ấy muốn cưới tôi làm thiếp, chứ dù bây giờ bà ấy (tức Hình phu nhân) có chết đi, ông ấy mối lái năm lần bảy lượt lấy tôi về làm vợ cả tôi cũng chẳng nghe đâu”. Tạo sao Uyên Ương không muốn làm vợ lẽ của Giả Xá? Giả Xá chẳng đã từng nghi ngờ Uyên Ương chê ông già, ông nói: “Xưa nay chị Hằng yêu tuổi trẻ, có lẽ Uyên Ương đã nhắm thằng Bảo Ngọc hay thằng Liễn rồi.” Về chuyện này, trước mặt Giả Mẫu Uyên Ương đã dứt khoát trả lời : “Vì cháu không bằng lòng nên ông Cả bảo cháu mê cậu Bảo Ngọc nếu không thì cũng đợi lấy người ngoài, lòng cháu đã tắt lạnh rồi! Cháu nói trước mặt mọi người ở đây, đừng nói là “Bảo Ngọc” chứ dù “Bảo Kim”, “Bảo Ngân” “Bảo Thiên Vương”, “Bảo Ngọc Hoàng” nào đi nữa, cháu cũng chẳng lấy, cứ ở vậy suốt đời là xong chuyện! Nếu cụ ép quá, cháu đành một nhát dao là xong đời chứ không thể tuân lời được!” Mấy lời ấy xuất phát từ miệng của một a hoàn thật đáng làm người ra thán phục biết bao!
Vì sao Uyên Ương từ chối làm vợ bé thì tiểu thuyết hoàn toàn không nói rõ, nhưng theo lời của bình Nhi, chúng ta biết Uyên Ương vốn đã có “chủ ý”, Bình Nhi nói: “Cứ ý tôi, việc này chưa chắc đã ổn. Những khi vắng người, chúng tôi thường gợi chuyện, nhưng nghe chủ ý của cô ấy xem ra chưa chắc đã chịu”. Uyên Ương có “chủ ý” gì thì Bình Nhi nói có vẻ mơ hồ quá. Sau đó, khi Bình Nhi, Tập Nhân cùng Uyên Ương nói đùa với nhau rằng có cách từ chối Giảe Xá tốt nhất là nói Giả Mẫu đã hứa đem Uyên Ương cho Giả Liễn hay Bảo Ngọc rồi. Thế là Uyên Ương nổi giận mắng: “Chúng mày tưởng rằng rồi đây sẽ tốt cả đấy, sẽ làm dì hai cả đấy! Cứ ý tao, việc trên đời này, chưa chắc đã được như ý cả đâu.” Theo đó ta thấy Uyên ương sở dĩ từ chối làm lẽ Giả Xá, thì ngoài cách nhìn nhận không tốt của ông già hiếu sắc Giả Xá ra, điều quan trọng là do cô thấu suốt cái kết quả không tốt đẹp của một người làm vợ bé. Khi người chị dâu của cô đến nói “có chuyện vui to bằng trời” Uyên Ương đã nổi giận mắng: “Chuyện gì hay? Chuyện con khỉ ăn gừng! Chuyện gì mừng? Chuyện ông huyện về quê! Thảo nào ngày thường các người cứ thèm thuồng bọn a hoàn nhà khác được làm bà trẻ, để cả nhà cậy thế làm càn, cả nhà đều được làm bà trẻ! Thấy thế là các người nóng mắt lên, chực đẩy tôi vào lò lửa. Nếu tôi đắc thế, các người ở ngoài tha hồ ngang tàng làm bậy, tự phong cho mình là ông cậu. Nếu tôi không ra gì, gặp lúc thất thế, các người sẽ rụt cổ lại, sống chết bỏ mặc tôi.” Như vậy Uyên ương đã thấu rõ cuộc sống của người vợ bé, cô hiểu biết sâu sắc hơn nhiều so với Bình Nhi và Tập Nhân về vấn đề này. Để bảo vệ sự trong trắng của người con gái trong đám bùn nhơ ô trọc và để giữ gìn sự cao quý của nhân cách con người, cô không tiếc đời mình, nếu cần có thể đi tu hoặc tự tử, dũng cảm chống lại sự dâm ô ở trên quyền thế của Giả Xá, tinh thần ấy ngay cả Giả Bảo Ngọc cũng không thể sánh kịp, đáng khâm phục thay! Cố nhiên Uyên Ương khéo léo lợi dụng mối quan hệ khăng khít giữa cô và Giả Mẫu, đấy cũng là cái gốc để cô dám cự tuyện cuộc hôn nhân với Giả Xá.
Nhưng Uyên ương chỉ tạm thời “thắng lợi” chứ không thể thay đổi được số phận chung cuộc của mình. Giả Xá đã nói: “Bảo nó nghĩ kỹ đi: dù nó lấy ai nữa, cũng khó thoát khỏi tay ta! Trừ phi nó chết đi, hay suốt đời không lấy chồng, ta mới chịu! Nếu không, bảo nó nên mau mau nghĩ lại, sẽ có nhiều điều hay đấy.” Cuối cùng, Uyên Ương không thoát nổi sự báo thù của Giả Xá.
Bốn mươi hồi sau của tiểu thuyết, tả cô sau khi Giả mẫu qua đời: “Gái Uyên ương theo chủ lên chầu trời”. Tức là cô tự tử chết theo Giả Mẫu. Người ta cho rằng kết cục như vậy không phù hợp với nguyên ý của Tào Tuyết Cấn. rấy có khả năng kết cục của Uyên ương là xuất gia làm ni cô. Mấy lần cô từng thề: “Tôi cắt tóc làm ni cô là xong” hoặc “Suốt đời không lấy chồng”. Cô cũng từng lấy kéo cắt tóc trước mặt Giả Mẫu và mọi người, tất cả đều thể hiện ý muốn đi tu của cô. Trong xã hội bình thường, con gái xinh đẹp trẻ trung đều muốn có một cuộc đời tình ái trong đầy chung thuỷ như loài chim uyên ương nhưng trong xã hội HLM phản ánh tất cả đều trở thành không bình thường, con gái xinh đẹp trong trắng đều gặp bất hạnh. Uyên Ương không có cuộc đời tình ái mà còn bị ép đến độ “thê dứt bạn Uyên ương”, thề suốt đời không lấy chồng” để cuối cùng phải dứt bỏ cuộc hồng trần trong lúc đang tràn đầy tuổi thanh xuân. Đấy là lối châm biếm sâu sắc biết bao, là lời tố cáo đầy phẩn nộ biết bao! Do đó, điều ngụ ý trong cái tên Uyên ương đã được nêu rõ ra vậy.
Dùng tên chim để đặt cho người con gái còn có Tử Quyên.Tử Quyên là a hoàn của Giả mẫu phái sang hầu hạ lâm Đại Ngọc và cùng với Đại Ngọc có mối quan hệ khá đặc biệt. Có thể nói trong HLM, ngoài Bảo Ngọc ra, cô là người bạn thân thiết nhất của Lâm Đại Ngọc. Quan hệ giữa họ với nhau vừa là quan hệ chủ tớ, vừa là quan hệ bạn bè, tình như chị em, ruột thịt. Tử quyên tức là đỗ quyên hay đổ vũ. Chim tử quyên theo truyền thuyết là hồn Thục Đế thác vào loài chim ấy, nó có tiếng kêu bi thương, thảm thiết. Phái cho Đại Ngọc một a hoàn có tên gọi như thế này chắc là điều có dụng ý. Đời Gia Khánh nhà Thanh có người nói: “Đại Ngọc hay khóc, đứa ở có tên là Tử Quyên ắt hẳn là loài chim Tử quyên hay kêu thảm thiết vào mùa hè.” Lời nói ấy chắc phải có lý do. Truyền thuyết về chim đỗ quyên kêu gào thảm thiết có nói trong “Hoa dương Quốc chi”: “Vọng đế” truyền ngôi lại cho Khai Minh rồi lên núi Tây Sơn ở ẩn. Vào khoảng tháng 2 chim tử quyên kêu, cho nên người Thục rất buồn khi nghe tiếng chim tử quyên”. Theo tiếng kêu buồn đến chảy máu của chim tử quyên, tự nhiên người ta nghĩ đến nước măt đầm đìa của nàng Tiêu Tương phi tử, nhân đó mà Đại Ngọc được gọi là “Tiêu Tương phi tử”. Rõ ràng Tào Tuyết Cần đặt cho a hoàn Đại Ngọc tên Tử quyên là có dụng ý muốn ám chỉ số phận bi thảm của lâm Đại Ngọc, nỗi bất hạnh kêu khóc đến khô nước mắt mà chết. Hồi thứ 70 của HLM, Lâm Đại Ngọc có bài thơ nhan đề “Đào hoa hành” người ta cho bài thơ này cùng với hai bài thơ trước là “Táng hoa ngâm” và “Thu song vũ tịch” là bộ ba đoản khúc nói về số phận bi kịch của Lâm Đại Ngọc. Bài thơ này ám chỉ Đại Ngọc sắp đi hết đoạn đường của cõi nhân sinh, như hai câu cuối:

“Nhất thanh đỗ vũ xuân quy tận
Tịch mịch liêm lung không nguyệt ngân”
(Tiếng quyên bỗng gọi xuân đi
Rèm này lặng lẽ trăng kia lờ mờ)

Ngụ ý của tên gọi Tử Quyên rõ ràng không có gì khó hiểu nữa. Một người hay khóc, khóc đến khô nước mắt của Tiêu Tương phi tử, một chim Tử quyên kêu bi thương đến chảy máu, hai truyền thuyết xa xưa mà cùng bi thảm khéo kết hợp lại với nhau càng làm tăng không khí bi kịch của quán Tiêu Tương.
Lấy chim hoa đặt tên cho nhân vật trong HLM còn có một số người nữa như Hương Lăng, Hạ Kim Quế, Oanh Nhi, Tuyết Nhạn, Xuân Yến v.v…trong đó có ngụ ý như tên Hương Lăng, Hạ Kim Quế, Oanh Nhi còn mấy người khác thì khó nhận ra. Nhân vật trong HLM thì rất nhiều, tên của mỗi nhân vật không phải đều có ngụ ý và nhiều khi cũng không cần thiết. Lấy chim hoa đặt tên cho nhân vật là điều thường thấy trong những tác phẩm văn học cổ điển Trung Quốc chứ không phải là một thứ sáng tạo sau này của Tào Tuyết Cần nhưng khéo dùng đặc điểm của chim hoa mà đặt tên cho nhân vật giống như trong HLM để làm nổi bật tính cách của nhân vật hay ẩn dụ số phận của nhân vật thì đó là một điều hiếm thấy.

THÁI ĐỘ CỦA THÁM XUÂN ĐỐI VỚI DÌ TRIỆU
(Trích mạn dàm HLM)

Biệt danh của Thám Xuân là “hoa hồng”, tại sao lại có biệt danh này? Hồi thứ 65 của HLM có một đoạn giải thích khá đặc sắc của thằng Hưng, đứa hầu trai của Giả Liễn như sau: “Hoa hồng vừa đỏ vừa thơm, ai mà chẳng phải yêu, có điều lắm gai thôi. Đáng tiếc là cô ấy lại không phải bà Hai đẻ ra, thực là “phượng hoàng đẻ trong tổ quạ” Lời nói của thằng Hưng rất hình tượng để vẽ ra con người và tính cách của Thám Xuân. Thám Xuân đúng là cô gái không giống với phần đông các cô gái khác, ở người cô vưad có cái nhu mì của nữ tính, vừa lộ ra cái cương nghị, hào sảng của nam nhi. Trong HLM, sự chuyện về Thám Xuân cũng không nhiều lắm, nhưng có hai chuyện để lại ấn tượng sâu sắc đối với mọi người: một là việc quản lý gia chính, hai là những biểu hiện trong cuộc lục soát Đại Quan Viên, đặc biệt là chuyện đánh vợ Vương Thiện Bảo một bạt tai làm nổi bật một phần trong tính cách “gai góc” của cô. Hai sự chuyện trên đều được mọi người khen ngợi. Nhưng vì những cái gai ấy mà có một sự việc khiến người ta không thể hiểu nổi, thậm chí còn rước lấy không ít những lời bình phẩm, đó chính là cái gai chích ngay vào người dì Triệu, mẹ đẻ của cô.

Thám Xuân có thái độ hầu như “bất cận nhân tình” đối với dì Triệu, sự việc tập trung ở hồi thứ năm mươi lăm trong cuộc xung đột giữa hai mẹ con. Nguyên nhân của sự việc là cái chết của em dì Triệu là Triệu Quốc Cơ, Thám Xuân chiếu lệ cũ cấp cho nhà họ Triệu 24 lạng bạc dùng cho táng phí. Dì Triệu thấy số tiền cấp quá ít liền chạy đến chỗ Thám Xuân : “- Người trong nhà này ai cũng muốn giúi đầu tôi xuống, các cô hãy làm thế nào cho tôi hả giận mới phải!” Thám Xuân vội nói:”- Dì nói ai thế? Tôi thật không hiểu. Ai giúi đầu dì xuống? Xin cứ nói ra, tôi sẽ làm cho dì hả giận.”Dì Triệu liền nói Thám Xuân chỉ biết làm thế nào cho bà Hai thương mà không biết dắt díu nhà họ Triệu, đồng thời trách móc cô: “Bây giờ cô nói một là một, hai là hai. Cậu của cô chết, cô có cho thêm hai, ba mươi lạng, chẳng lẽ bà Hai lại không bằng lòng hay sao?… Sau này cô đi lấy chồng, tôi còn mong gì cô nhìn ngó đến nhà họ Triệu nữa! Bây giờ chưa mọc cánh mà đã quên tổ chỉ chực chọn cây cao mà bay thôi.” Thám Xuân chưa nghe hết lời, tức tái mặt, nghẹn ngào khóc nức khóc nở, hỏi: “- Ai là cậu tôi? Cậu tôi đã thăng chức tuần kiểm chín tỉnh rồi! Bây giờ lại còn một cậu nào nữa. Xưa nay tôi vẫn kính trọng lẽ phải, nhưng khi nào lại kính trọng đến những hạng thân thích như thế? Dì nói thế thì sao mỗi khi em Hoàn đi ra, Triệu Quốc Cơ lại phải đứng dậy? Lại phải theo hầu nó đi học? Sao không giở cái lối ông cậu ra!”… Kết quả của cuộc tranh cãi ấy thật đúng như tiêu đề của đầu hồi: “Mắng con gái mình, dì Triệu tức nhảm”. Dì Triệu đã không tranh thêm được lạng nào mà còn phải bị một phen tức hảo.

Về cuộc tranh cãi của hai mẹ con, ai đọc đến đấy cũng đều cảm thấy nghi ngờ, khó hiểu: Thám Xuân đối với mẹ đẻ của chính mình sao lại có thể tàn nhẫn đến thế? Tại sao mỗi lời mỗi chữ của Thám Xuân lại gọi mẹ đẻ của mình là “dì”? Tại sao không thừa nhận Triệu Quốc Cơ là cậu mà gọi là nô tài? Dì Triệu yêu cầu Thám Xuân dắt díu nhà họ Triệu là có hợp tình hợp lý không? Dì Triệu trách Thám Xuân chỉ muốn lấy lòng bà hai, chỉ muốn chực chọn cây cao mà bay có lý do hay không? Muốn trình bày rõ những rất đề trên không phải là một chuyện dễ dàng. Ở đây, chúng ta có thể phân tích cụ thể theo ba phương diện sau để làm sáng tỏ các câu hỏi ấy. Đó là chế độ tông pháp phong kiến, tâm lý và tính cách tự tôn của Thám Xuân, phẩm hạnh và cách sống của dì Triệu.

Theo chế độ tông pháp phong kiến, thê thiếp, đích thứ đều có sự phân biệt rất nghiêm khắc. Dì Triệu, mẹ đẻ ra Thám Xuân và Giả Hoàn là thiếp, quan hệ giữa bà và Vương phu nhân không thể xem là quan hệ giữa vợ lớn và thiếp mà là quan hệ giữa đầy tớ và chủ nô. Thông thườngm thiếp là do từ a hoàn của chủ nhân mà ra, như Giả Xá cho a hoàn Thu Đồng của mình về làm thiếp Giả Liễn, hoặc là do mua con gái của người nghèo khổ từ ngoài vào như Giả Xá không cưới được Uyên Ương đã bỏ ra 500 lạng mua Yên hồng mới 17 tuổi về làm thiếp. Bất kể là nữ nô của nhà mình hay con gái mua ngoài về, tuy làm thiếp, địa vị có cao hơn , nhưng thân phận vẫn không thay đổi là mấy. Hồi thứ 60 của HLM, Phương Quan cãi nhau với dì Triệu, cô ấy nói thẳng thừng: “Dì không thể mắng được tôi, tôi không phải là người dì mua về. “Con hầu lạy thằng ở”, cũng đều là bọn đầy tớ cả thôi!” Trong con mắt của Phương Quan, một đứa bé học hát có địa vị thấp kém thì “bà dì” cũng chẳng cao quý hơn nó là mấy. Tuy bảo thân phận của “bà dì” chỉ như thế nhưng con cái của bà sẽ là người chủ chính cống. Có điều con của họ cũng chỉ là “con hạng thứ”, nhất luật chỉ lấy người vợ chính pháp làm mẹ còn mẹ đẻ ra mình thì chỉ là “mẹ thứ”. Như vậy là thiếp đối với con cái của mình sinh ra, do thân phận giữa họ khác nhau, bà không thể ở ngôi “mẹ” được, thậm chí cả quyền dạy dỗ con cái cũng không có. Ví dụ như hồi thứ 20 của HLM, đương khi dì Triệu ở nhà dạy Giả Hoàn, vừa bị Phượng Thư đứng ngoài cửa sổ nghe được, Phượng Thư tức thời mắng dì Triệu: “Dù nó thế nào chăng nữa, đã có ông và bà cai quản, sao lại ngoạc cái mồm ra mắng nó? Nó là cậu ấm, đã có người dạy bảo, việc gì đến dì?” ở đây, Phượng Thư đã nói rõ thân phận và địa vị của dì Triệu: “Giả Hoàn là cậu chủ , dì Triệu là nô tài, nô tài làm sao “Dạy bảo” được cậu chủ? Đó là quy định của chế độ tông pháp phong kiến, đó cũng chính là căn cứ để Thám Xuân hùng hỗ trách móc gì Triệu mẹ ruột của mình là “hồ đồ không biết lẽ”, mỗi chữ mỗi lời đều gọi mẹ ruột của mình là “dì” và không thừa nhận Triệu Quốc Cơ là cậu mà gọi là nô tài.

Đúng là chế độ tông pháp phong kiến có những sai trái đối với nhân luân, thường tính, đó không phải là lỗi của Thám Xuân. Nhưng chỉ căn cứ vào đó thì hầu như không thể giải thích rõ tại sao Thám Xuân đối xử với mẹ đẻ của mình mà lạnh nhạt và tàn nhẫn như vậy. Với laik trong cuộc xung đột trên, dì Triệu chỉ mong Thám Xuân nâng đỡ, dắt díu nhà họ Triệu , thêm một vài lạng bạc. Là mẹ bách thịt đẻ mình ra thì yêu cầu ấy cũng là điều tự nhiên thôi, không có gì là không hợp tình hợp lý cả. Lúc đó Lý Hoàn đứng bên cạnh cũng khuyên: “- Dì đừng nóng nảy thế, cũng không nên trách cô ấy. Dù trong bụng cô ấy muốn dắt díu chăng nữa, cũng không khi nào nói ra miệng được” Thế nhưng lời khuyên của Lý Hoàn gặp phải sự phản bác của Thám Xuân: “Chị Cả cũng hồ đồ! Tôi dắt díu được ai? Có các cô nhà nào lại đi dắt díu bọn đầy tớ? Họ hay dở thế nào, các người chắc cũng biết đấy, can gì đến tôi?” Nhưng trong lời nói của Lý Hoàn chúng ta cảm thấy Lý Hoàn xem việc nâng đỡ nhà họ Triệu không có gì là không được cả, chỉ ngại những lễ cũ trong phủ và thân phận của Thám Xuân không tiện nói ra mà thôi. Sau đó, Bình Nhi đến truyền đạt lời Phượng Thư “Nếu chiếu theo lệ cũ thì chỉ cấp 20 lạng. Nay xin cô cứ việc định liệu, có thể thêm một ít cũng được. Xem thế đủ thấy những người khác đều coi yêu cầu của dì Triệu không có gì là quá đáng cả, “nâng đỡ” nhà họ Triệu cũng là chuyện bình thường, nhất là ở đây, cấp tiền tống táng thì có phá lệ cũ xưa nay cũng được thôi. Như khi Bình Nhi truyền đạt “hảo ý” của Phượng Thư lại gặp sự cự tuyệt gay gắt của Thám Xuân. Thám Xuân đối với mẹ đẻ ra mình như vậy thật chẳng nể nang gì làm cho chúng ta cảm thấy cô là người không có tình. Nghiên cứu tìm hiểu nguyên nhân sâu xa, chúng ta có thể nhận ra điều ấy có mối quan hệ chủ yếu với nét tâm lý tự tôn và ý chí vương lên trong tính cách của Thám Xuân.

Thám Xuân “chí cao tài giỏi” là một cô gái có tài năng có kiến thức, có ý chí, cô đã từng nói thẳng thừng rằng : “Nếu tôi là con trai, tôi đã ra đi lập nghiệp từ sớm rồi, lúc ấy tự tôi sẽ có lý của tôi” Xem thế đủ thấy cô là người có ý chí hơn người. Thế nhưng lòng tự tôn và ý chí vươn lên cùng với phận con gái và địa vị con bà thứ của cô đã hình thành mối mâu thuẩn trong con người của cô. Thằng Hưng nói về Thám Xuân: “Đáng tiếc không phải con bà Hai đẻ ra” Vương Hy Phượng cũng nói: “- Cô Ba khá đấy! Ta nói không sai. Chỉ tiếc là cô ấy xấu số không phải bà Hai đẻ ra.” Cùng là tiểu thư, con của lão gia là con đích, con thứ thì có quan hệ gì nào? Bình Nhi nghe Phượng Thư nói mới hiêu ra, Phượng thư giải thích: “- Chị biết đâu được! Con vợ lẽ cũng như con vợ cả thực, nhưng là con gái thì bì thế nào được với con trai. Sau này đến tuổi lấy chồng, những hạng khinh bạc thường hay dò hỏi con vợ cả hay con vợ lẽ, chỉ vì con vợ lẽ mà nhiều người không dạm.” Xem thế này thì thấy thân phận con bà thứ đối với số phận của cô gái tự tôn mà có chí tiến thủ như Thám Xuân là một điều có quan hệ đặc biệt. Cho dù ngoài miệng Thám Xuân nói với Bảo Ngọc: “Phụ là gì, thứ là gì, tôi cũng không cần biết.” Thực ra trong lòng cô đã biêt rõ như thế nào rồi. Cô không có cách gì thay đổi thân phận con bà thứ của mình được nhưng lại cam tâm chịu sự an bài của số phận. Do đó cô tuyên bố: “Tôi chỉ biết có lão gia và bà hai, còn ai khác tôi không cần để ý đến” từ đó cô có ý cách biệt dần với dì Triệu, mẹ đẻ của mình mà tỏ ra thân thiết với Vương phu nhân, cố gắng làm cho Vương phu nhân thương mến, điều này hoàn toàn dễ hiểu. Nhưng khổ tâm và sự cố gắng của Thám Xuân lại dẫn đến nỗi bất mãn của dì Triệu, mẹ đẻ cô. Từng giờ từng phút Thám Xuân muốn xoá dần thân phận con bà thứ của mình, còn dì Triệu lại nhắc nhở Thám Xuân không được quên là con bà “bách thịt đẻ ra”. Thám Xuân kiên quyết không thừa nhận quan hệ thân thích với họ Triệu, còn dì Triệu lại nhắc nhở cô nâng đỡ họ Triệu. Là mẹ đẻ của Thám Xuân, yêu cầu của dì Triệu không có gì quá đáng nhưng lại tổn thương lòng tự tôn của Thám Xuân một sách sâu sắc: “Ai chả biết dì đẻ ra tôi, cứ vài ba tháng lại tìm cách gây chuyện, đào bới nhau lên, sợ người ta không biết, nên cố ý bêu ra! Ai làm cho ai mất thể diện đây! May tôi là đứa biết điều, nếu hồ đồ không giữ lễ thì đã nóng máu lên rồi.” Trong lời của Thám Xuân bao hàm biết bao khổ tâm và oán hận. Điều làm cho Thám Xuân đau khổ chính là sự hay gây ồn ào “vô lý” của dì Triệu làm ảnh hưởng đến quan hệ giữa cô và Vương phu Nhân. Thám Xuân đã từng nói “Cứ ý tôi, hiện giờ bà Hai đi vắng chưa về, dì nên yên tĩnh giữ sức khỏe, tội gì phải bận lòng thế. Bà Hai rất thương tôi, vì dì cứ hay tính chuyện, nên mấy lần người rất phiền lòng.” Những điều Thám Xuân nói có Vương Hy Phượng chứng thực “ Bà hai thương mến cô ấy nhưng chì vì dì Triệu ấy gây ồn ào…” Chuyện hay sanh sự của dì Triệu là điều mà tính tự tôn và tính cách tiến thủ trong con người của Thám Xuân không có cách gì nhẫn nhịn được.

Khi bàn đến thái bộ bất cận nhân tình của Thám Xuân đối với dì Triệu, chúng ta không thể bỏ qua một nhân tố khác, đó là tư cách tồi tệ của dì Triệu. Về con người dì Triệu, trong HLM có không ít chi tiết cụ thể như hồi 35 “Mắc thuật 5 con quỷ, chị em hoá điên rồ” dì Triệu cùng Mã đạo bà âm mưu dùng bùa chú ám hại Bảo Ngọc và Hy Phượng. Hồi thứ 60 với tiêu đề “Đem phân mạt lỵ thay cho bột tường tường vi” dì Triệu cùng bọn trẻ học hát như Phương Quan cãi lộn v.v… Nói một cách đại thể, tư cách của bà là : một là ngu, hai là tâm bất chính, ba là không tự trọng. Ngay như Thám Xuân cũng nói bà là “thâm độc, nhỏ nhen, đê tiện”. Sau lần dì Triệu gây gổ với Phương Quan, Thám Xuân đã không khách sáo trách mẹ đẻ mình: “tội gì không biết tự trọng mà lại gào thét ầm lên, làm mất cả thể thống. Dì thử xem dì Chu, có ai dám khinh nhờn đâu, mà dì ấy cũng chẳng gây chuyện với ai. Xin dì hãy về nhà dẹp cơn giận lại, đừng nghe kẻ nói bậy xúc xiểm, để cho người ta cười mình là ngu ngốc, chỉ tốn công lo việc vu vơ hão huyền cho người ta thôi.” Rồi cô nói tiếp : “- Nhiều tuổi như thế mà còn làm những việc không để cho người ta nể! Câu chuyện có ra gì đâu, cũng cãi nhau ồn lên, không biết giữ gìn thể thống!” Đó đâu phải như con nói với mẹ mà như chủ nói với tớ, người trên nói với kẻ dưới, lời nói đầy chán ghét và coi thường. Dì Triệu đúng là người nhỏ nhen, chúng ta thật không hiểu sao Tào Tuyêt Cần lại xây dựng một nhân vật như thế đến nỗi người ta nghi ngờ một chính nhân quân tử như Giả Chính lại đi kiếm một bà vợ bé tồi bại như vậy!

Cho dù thái bộ bất cận nhân tình của Thám Xuân đối với mẹ đẻ của mình như thế nào cũng có một vài lý do và nguyên nhân, cho dù chúng ta đối với Thám Xuân, một đoá hồng “gai hóc, vô cùng yêu thích và tôn trọng nhưng chúng ta không thể không chỉ trích thái độ của Thám Xuân đối với Dì Triệu đúng là có chỗ quá đáng. Dĩ nhiên trong cung cách và thái độ lạnh nhạc của Thám Xuân đối với dì triệu, ngoài tâm lý tự tôn, tính cách hiếu thắng ưa vươn lên của bản thân Thám Xuân và sự nhỏ nhen hèn mọn của dì Triệu ra còn tất cả chủ yếu đều do xã hội, do đức tính tốt đẹp của con người bị thay đổi và cũng do quan hệ trong sáng giữa người và người bị chuyển hoá mà chế độ tông pháp phong kiến đã tạo nên. Đúng như Tưởng Hoà Sâm nhận định trong bài “Luận Thám Xuân” nổi tiếng của ông như sau: “Mọi chế độ xã hội không hợp lý thì thường làm tổn thương tình cảm giữa con người với con người, cho dù là tình cốt nhục thiêng liêng đi nữa cũng không ngoại lệ”

Tuesday April 17, 2007 – 08:54pm (ICT)

ĐOÁN TRƯỚC VIỆC LẤY CHỒNG XA CỦA THÁM XUÂN
(Trích Mạn đàm HLM)

Dưới ngòi bút của Tào Tuyết Cần, kết cục của Thám Xuân cũng rất bất hạnh. Nguyên Xuân, Nghênh Xuân tiếp nhau chết sớm thì cô lại mang nỗi buồn đi lấy chồng xa, một đi không trở lại. Nhưng điều không hài lòng là 40 hồi sau do Cao Ngạc viết tiếp nên chúng ta không thể biết Tào Tuyết Cần sẽ tả cụ thể như thế nào. Trong 40 hồi sau của tác phẩm có nói cô tiểu thư thứ 3 của nhà họ Giả lấy chồng xa, ở tận một đảo quốc nào đó, lấy con trai của vị Tổng chế Trấn hải, và hồi thứ 119, Thám Xuân trở thành bà Ba về lại Ninh Quốc phủ thăm cha mẹ “trông Thám Xuân lại càng xinh đẹp, ăn mặc lộng lẫy hơn trước.” Xem cung cách ấy thì mệnh vận của cô rất tốt. Điều này rõ rang không phù hợp với số phận bi kịch của nhân vật được sắp đặt trong “bạc mệnh ty” của Tào Tuyết Cần ở hồi thứ 5.
Như vậy, rốt cuộc kết cục của Thám Xuân như thế nào? Tại sao cô lấy chồng xa? Người chồng xa ấy là ai? Ở đâu? Trước những câu hỏi ấy, người nghiên cứu có cách nhìn nhận không giống nhau. Trong đó có một cách nhìn nhận ảnh hưởng nhất là cho rằng Thám Xuân đến một nơi hải đảo xa xôi ngoài nước Trung Quốc làm vương phi. Nhưng chúng tôi thấy nói làm vương phi ở hải ngoại cũng không phải là kiến giải có giá trị gì cho lắm, mà lại không phù hợp với ý lấy chồng xa của Tào Tuyết Cần. Sở dĩ kết cục của Thám Xuân được tả ở những 40 hồi sai trái với nguyên ý của Tào Tuyết Cần không phải vì Tổng chế Trấn Hải tại vùng biển không đủ xa mà vì kết cục ấy không phù hợp với số phận bi kịch của nhận vật được nói trước trong Kim lăng thập nhị thoa. Dĩ nhiên, trong một ý nghĩa nào đó thì việc lấy chồng tận đảo quốc hay lấy chồng “man mọi cũng là bi kịch rồi nhưng cái bi kịch ấy khác với những nhân vật khác trong 12 cô gái Kim Lăng, so ra hầu như có phần tốt đẹp hơn nhiều. Khoan nói đến những người khac mà chỉ nói 4 chị em của nhà họ Giả. Nguyên Xuân, Nghênh Xuân phải chết thảm, Tích Xuân phải cắt tóc đi tu “thương thay con gái nhà khuê các, một ngọn đèn xanh cạnh phật bà”. Xem ra Tích Xuân không được nhàn hạ, thoải mái như Diệu Ngọc ở am Lũng Thuý. Nghiễn Chi Bình thổ lộ: “Tiểu thư ngàn vàng mà phải nâu sồng khất thực, không bi thảm lắm sao!”Tình cảnh bi thảm của Tích Xuân xem đó thì đủ biết. Nhân vật trong 12 cô gái Kim Lăng đều có kết cục bất hạnh, dù chết, dù sống cũng đều bi thảm cả. Nói gọn một từ là “bạc mệnh”!Nhân vật còn sống thì địa vị cũng phải biến đổi. Ví dụ Anh Liên và Kiều Hạnh, cô chủ nhân thành a hoàn và a hoàn thành cô chỉnh, chính như trong bài “Hảo Liễu ca” cũng nói như vậy “ thịnh suy vinh nhục biến hoá khó lường. Từ đó suy ra số phận của Thám Xuân không hơn gì Nguyên Xuân, Nghênh Xuân, Tích Xuân. Căn cứ những đầu mối đưa ra trước hồi 80, chúng tôi cho rằng Thám Xuân đúng là làm vương phi có điều không phải là một vương phi ở hải ngoại mà là một vương phi trong nước đến ngày cưới thì gia đình nhà chồng gặp tai biến lớn. Lúc ấy Nguyên Xuân đã chết, nhà họ Giả suy sụp, không thể chống đỡ được nữa, đúng là “buộc buộc xe xe cũng khó lòng” . Với hoàn cảnh không thể cứu vãn ấy, Thám Xuân phải ôm hận theo chồng. Rất có thể họ bị biếm trích ra hải đảo hay thậm chí có thể bị lưu đày. Từ đó về sau cuộc sống bấp bênh không an định và một đi không trở lại.
Ở 80 hồi đầu, ám chỉ về số phận của Thám Xuân tiểu thuyết có nói ở mấy nơi. Hồi thứ 5, trong thái hư canhe ảo có lời phán từ và đoản khúc “Phân cốt nhục” hồi thứ 22 Thám Xuân ra câu đố đèn, hồi thứ 63, chị em mở dạ tiệc, Thám Xuân rút thăm, hồi thứ 70 Thám Xuân làm bài từ Nam Kha, và sau đó nói thêm trong lần thả diều v.v… Đó là những căn cứ quan trọng để chúng ta tìm hiểu kết cục của Thám Xuân.
Thả diều xét về phương diện ám chỉ số phận chung cuộc của Thám Xuân là chi tiết đáng chú ý nhất. Nhưng sự nhận biết mối liên hệ giữa việc thả diều và số phận của Thám Xuân như thế nào thì mọi người có cách nhìn nhận không giống nhau. Thông thường, người ta cho rằng thả diều chính là sự tượng trưng Thám Xuân lấy chồng xa và một đi không trở lại, điều đó có thể đúng. Nhưng tôi cho không chỉ có vậy, thả diều trên thực tế tượng trưng cho toàn bộ quá trình biến đổi số phận của Thám Xuân. Thả diều không chỉ thả đi mà còn đi luôn, ko quay lại nưa. Trước tiên, thả diều ra, diều bay lên cao sau đó đứt dây bay mất. Điều đứt dây bay vào nơi vô định lại ngụ ý sự bất hạnh và không ổn định của cuộc sống lấy chồng xa. Tôi cho rằng đó mới là sự lý giải đầy đủ mối liên hệ giữa việc thả diều và số phận của Thám Xuân.. Dĩ nhiên đó không phải là suy nghĩ tuỳ tiện của người viết mà có căn cứ hẳn hoi. Lời phán từ về Thám Xuân ở hồi thứ 5 như sau: “Mặt sau lại vẽ hai người thả diều, một vùng bể lớn, một cái thuyền lớn, trong thuyền có một cô gái bưng mặt khóc. Sau bức họa có bốn câu:

Chí cao tài giỏi có ai bì,
Gặp lúc nhà suy, vận cũng suy,
Nhớ tiếc thanh xuân ra bến khóc.
Gió đông nghìn dặm mộng xa đi.”

Đó là lần thứ nhất ám chỉ số lấy chồng xa của Thám Xuân. Cô gái ngồi trong thuyền đương nhiên là Thám Xuân.. Cũng có người co rằng ở đây rõ rang có biển rộng có thuyền lớn, sao lại không chứng tỏ Thám Xuân muốn vượt biển đi xa? Thực ra thì cũng chưa chắc. Biển rộng có thể tượng trưng cho biên giới vùng biển hay một góc biển nào đó, thuyền lớn cũng không nhất thiêt phải đi trên biển. Trong lời phán từ nói rất rõ “Nhớ tiếc thanh xuân ra bến khóc.”(Thanh minh thế tống giang biên vọng) Vậy xem ra rất có thể là thuyền đi trên song (giang thuyền) . Đó là bức tranh vẽ cảnh buồn thảm lúc Thám Xuân đi lấy chồng xa. Và theo đó thì hầu như không thấy có điều gì nói lên không khí Thám Xuân đi lấy chồng xa và làm vương phi ở một đảo quốc xa xôi cả.
Điều đáng chú ý là vẽ hai người thảt diều có ngụ ý gì, hai người ấy là ai và có quan hệ như thế nào với số phận Thám Xuân? Có người cho hai người thả diều là Giả Hoàn, và dì Triệu tức là những người bày mưu kế để Thám Xuân đi lâyc hồng xa nhưng tôi cho hai người ấy chính là Giả Chính và Vương phu nhân. Họ không phải là kẻ bày mưu kế để Thám Xuân lấy chồng xa mà là người quyết định chuyện hôn nhân đại sự của Thám Xuân. Thám Xuân không phải là người hời hợt. Tính cách và địa vị của cô quyết không thể do giả Hoàn và dì Triệu định đoạt. Ở phủ họ Giả, người quyết định chuyện hôn nhân đại sự cho Thám Xuân không ai khác và Giả Chính và Vương phu nhân. Hồi thứ 77 có bà mối đến ngỏ lời cầu thân đó là lần đầu tiên tiểu thuyết nói đến chuyện hôn nhân của Thám Xuân. Lúc ấy, Giả Xá đã hứa gả Nghênh Xuân cho Trung Sơn Lang Tôn Thiệu Tổ, việc này tuy Giả Xá có hỏi ý kiến của Giả Mẫu, trong bụng bà cụ không hoàn toàn ưa thích nhưng chuyện hôn nhân đại sự của con gái do cha mẹ quyết định nên bà cũng không phản đối, trong khi đó Giả Chính mấy lần can ngăn nhưng Giả Xá không nghe. Chuyện hôn nhân của cháu mình. Giả Chính còn can thiệp huống hồ hôn nhân của chính con gái mình há lại không quan tâm sao được? Giả Mẫu, Giả Chính, Vương phu nhân không hoàn toàn ưa ý cuộc hôn nhân của Nghênh Xuân, nay lại đề cập đến hôn sự của Thám Xuân, ẳt hẳn họ sẽ không sơ suất quyết định. Tóm lại, họ nhất định sẽ cố gắng tìm một người chồng xứng đôi vừa lứa cho Thám Xuân. Như vậy vợ chồng Giả Chính giống người thả diều, đưa diều bay lên cao, tìm cho được một người rể quý. Đương nhiên, cuối cùng thực tế và ý nguyện không tương hợp, bay cao, bay xa tất sẽ té nặng đúng như lời dự đoán của Tần Khả Khanh “trèo cao té nặng” đối với phủ Giả. Nay đem đối chiếu với số phận của Thám Xuân thì rất phù hợp. Vợ chồng Giả Chính thả diều khôngnhững không đem lại hạnh phúc cho Thám Xuân mà lại rơi vào cảnh “Nhớ tiếc thanh xuân ra bến khóc”, một kết cục ôm hận xa nhà. Đoản khúc phân cốt nhục cũng biết:

“Con đành lỗi với mẹ cha
Khóc than chỉ thiệt thân già đấy thôi”

Đó là lời than khóc của Thám Xuân lúc ly biệt. Cha mẹ ở đây là Giả Chính và Vương phu nhân vì mẹ đẻ Thám Xuân đã gọi là dì rồi.
Giả Chính, Vương phu nhân giống như người thả diều đưa Thám Xuân bay cao, bay xa mong muốn cô thành quý phi, vương phi, điều đó lại càng ám chỉ rõ hơn trong hồi thứ 63, “chị em mở tiệc”Thám Xuân rút thẻ hoa hạnh có 4 chữ “Dao Trì tiên phẩm” dưới có câu thơ “tựa mây hồng hạnh trồng bên mặt trời” và có lời chú “ai rút được thăm này tất lấy được chồng sang” Ở đây, tác giả mượn lời người khác cố ý tả “Nhà chúng ta đã có vị vương phi rồi. Có lẽ cô lại sẽ là vương phi cũng chưa biết chừng? Đáng mừng! Đáng mừng!” Người “đáng được” ở đây nhất định là Thám Xuân. “tựa mây hồng hạnh trồng bên mặt trời” càng hàm ý gia đình đế vương, vì chỉ có gia đình đế vương mới xứng đáng “bên mặt trời”. Nếu cho rằng Thám Xuân phải làm vương phi ở hải ngoại chứ không phải ở trong nước vì như vậy sẽ vượt Nguyên Xuân phạm phải sự sắp đặt “Ba xuân không sánh nổi đầu xuân” (Tam xuân tranh cập sơ xuân cảnh) Như vậy là không đúng. Vì Nguyên Xuân không phải là vương phi mà là hoàng quý phi. Dưới hoàng đến có thân vương, quận vương, Thám Xuân có thể là phi của một thân vương hay quận vương nào đó thì địa vị đâu vượt quá Nguyên Xuân, cho nên không thể bằng “cảnh đầu xuân” được.
Như vậy, rốt cuộc Thám Xuân đem gã cho ai, làm vương phi ở vương quốc nào? Đây là một vấn đề khó đoán ra nhưng trong HLM vẫn có một số manh mối có thể giúp chúng ta lần hồi suy nghĩ tìm tòi. Hồi thứ 71 có một chi tiết đáng chú ý. Giả phủ nhân mừng thọ Giả mẫu 80 tuổi có mời các hoàng thân, phu nhân, công chúa, vương phi, quận vương, quốc quân, thái quân….Ngày đó đến dự ở Ninh Quốc phủ có Bắc Tĩnh Vương, Nam An Quận vương, phò mã Vĩnh Xương, Lạc Thiện quận vương cùng các vị công hầu thế tập, ứng tập còn ở Vinh Phủ có Nam An thái phi, Bắc Tĩnh vương phi cùng các vị thế giao, công hầu. Trong những nhân vật ấy có 3 nhân vật đáng chú ý là Nam An quận công, Nam An thái phi và Thám Xuân.Tiểu thuyết có tả đến Nam An thái phi muốn thăm các tiểu thư phủ Giả, Giả Mẫu sai Phượng Thư gọi Tương Vân, Bảo Thoa, Bảo Cầm, Đại Ngọc đến, còn trong 3 tiểu thư họ Giả thì Giả Mẫu bảo Phượng thư chỉ gọi Thám Xuân. Điều này rất đáng để ý. Nam An thái phi vốn muốn thăm các tiểu thư trong phủ các cô Sử, Tiết , Lâm đều đến sao không gọi luôn Nghênh Xuân, Tích Xuân mà chỉ gọi Thám Xuân? Đương nhiên, có thể giải thích, Giả Mẫu chỉ thích Thám Xuân hoặc trong 3 cô ấy, thám Xuân xuất sắc hơn cả. Nhưng nguyên nhân sâu xa không hẵn chỉ có thế. Sau việc này, Hình phu nhân nhân “ Nam An thái phi muốn thăm chị em trong nhà mà Giả Mẫu chỉ cho gọi Thám Xuân còn Nghênh Xuân coi như không có” mà trong lòng rất oán hận không vui. Nam An thái phi nhìn ngắm các cô khen ngợi không ngớt, ngoài việc cùng Tương Vân quen biết trước nói qua mấy câu trêu đùa, bà còn “một tay nắm Thám Xuân, một tay nắm Bảo Thoa, hỏi: “Mười mấy tuổi rồi?” – Thái Phi lại khen ngợi luôm mồm. Sau bỏ hai người này ra, lại nắm Đại Ngọc và Bảo Cầm, ngắm nghía rất kỹ, khen ngợi một lúc, cười nói:- Đều đẹp cả! Không biết bảo tôi khen người nào cho phải!”Lời khen của Nam An thái phi có lẽ không phải là lời khách sáo vì năm cô gái hiện ra, cô nào cũng đẹp cả. Trong đó, Tương Vân Bảo Cầm đã có người dạm. Đại Ngọc, Bảo Thoa không thể gả cho người khác, với lại đều là bà con bên ngoại dĩ nhiên không giống như con gái của nhà họ Giả. Mà con gái nhà họ Giả thì chỉ có mỗi một Thám Xuân. Lúc Nam An thái phi gặp mặt các cô, vừa hỏi tuổi, vừa ngắm nghía kỹ rồi sau đó không lâu, có bà mối đến cầu thân với Thám Xuân, thế là Thám Xuân có chồng sang, vậy có quan hệ gì với vị Nam An thái phi này không? Trong HLM, Bắc Tĩnh Vương thường xuất hiện với Bắc Tĩnh Vương phi, Nam An quận vương thì lại xuất hiện với Nam An thái phi, trong sách không nói đến Nam An quận vương phi. Vậy Nam An quận vương phải chăng chưa lấy vợ hoặc giả vương phi đã chết sớm, vậy Thám Xuân có khả năng về làm vương phi của vị Nam An này chăng cũng chưa biết chừng.
Ngoài hồi thứ 71 ra, Thám Xuân còn làm một bài từ là bài Nam Kha từ có những câu như sau:

“Dây đâu treo lơ lửng,
Sợi khéo rủ lòng thòng.
Buộc buộc xe xe cũng khó lòng,
Thôi đành chia các ngả nam bắc tây đông!”

Đó là thơ vịnh bông hoa liễu của Thám Xuân, đồng thời cũng là tính cách của số phận mình. Bông hoa liễu bay đi, đó là thế tất phải vậy, chuyện ngoài ý muốn, cho nên nói “treo lơ lửng, rủ lòng thòng. Buộc buộc xe xe cũng khó lòng”(đã nan quan hệ đã nan ky). Đáng chú ý nhất là câu cuối : “Thôi đành chia các ngả nam bắc tây đông” Đó vừa chỉ sự chia lìa của hoa liễu vừa chỉ sự phân ly của Thám Xuân. Thám Xuân phải đi lấy chồng xa, cũng vừa chỉ số phận của những cô gái ở Đại Quan viên giống như bông hoa liễu phiêu bạc chia lìa. Còn như nói có khả năng Thám Xuân lấy chông xa được làm vương phi làm người ta dễ liên tưởng đến các từ “đông tây nam bắc” nói ở đây với 4 vị quận vương có tên tước vị bắt đầu bằng “đông tây nam bắc” là Đông Bình quận vương, Tây Ninh quận vương, Nam An quận vương, Bắc Tĩnh quận vương, tách ra sẽ là Đông Tây Nam Bắc, Bình An Ninh Tĩnh. Điều tác giả muốn ám chỉ chính là sự tương phản với ý nêu ra vì trên thực tế 4 phương Đông tây nam bắc không được bình an ninh tĩnh. Nhưng hồi sau hồi 80, HLM nói đến cái chết của Nguyên Xuân và sự lục soát phủ họ Giả, nhiều mâu thuẩn đã bộc lộ, thậm chí cả những mâu thuẩn trong hoàng cung. Bắc Tĩnh Vương hay Nam An vương gì gì đều có quan hệ mật thiết với phủ họ Giả. Vậy trong bài từ “Nam Kha từ” Thám Xuân nói đến “Đành chia các ngả Nam Bắc tây Đông” liệu có thể xem Thám Xuân có quan hệ gì với Nam An quận vương và có ám chỉ việc đi lấy chồng xa của cô không? Dĩ nhiên, đó chỉ là suy đoán thôi.
Thám Xuân có chồng sang và làm đến vương phi, thế tại sao cuối cùng phải ôm hận đi lấy chồng xa? Theo tôi, chỉ có một cách giải thích là: nhà chồng gặp biến cố. Điều này vẫn có căn cứ để kiểm tra. Hồi thứ 22, lời giải câu đố đèn của Thám Xuân đưa ra là một cái diều. Câu đố như sau:

“ Trẻ con ngửa mặt nhìn trời,
Thanh minh là tiết dong chơi hợp thì.
Mỏng manh một sợi du ti,
Biệt ly đừng có trách gì gió đông.”

Tiết thanh minh là thời điểm thích hợp nhất để thả diều, cũng ngụ ý nói đó là thời điểm Thám Xuân rời gia đình đi lấy chồng xa. Lời phán từ trong hồi thứ 5 cũng nói:
“Thanh minh thế tống giang biên vọng”
Hồi thứ 70 miêu tả cụ thể việc thả diều như sau:
“Thám Xuân đương định cắt dây cái diều phượng hoàng của mình, chợt nhìn thấy một cái diều phượng hoàng đang bay lên trời, liền nói:
– Không biết cái kia của ai?
Mọi người đều nói:
– Cô cứ cắt cái của cô đi, xem nó quấn lại với nhau thế nào?
Nói xong, thấy cái diều phượng hoàng này dần dần bay sát lại chập vào cái diều phượng hoàng kia. Mọi người đương định rút dây lại, thấy cái diều kia cũng rút dây. Hai cái đương quấn với nhau, lại thấy một cái diều thật to, có chữ “Hỷ” long lanh, có cả sáo vang lên như tiếng chuông trên lưng chừng trời, bay dần sát lại. Mọi người nói:
– Để cho cái này quấn vào, hãy hượm kéo về. Cả ba cái quấn vào nhau mới thích.
Quả nhiên cái diều chữ “Hỷ” quấn vào hai diều phượng hoàng. Ba cái cứ đảo tít mù, đều đứt cả dây rồi vù vù bay đi cả.”
Đoạn văn miêu tả trên có thể nói là cụ thể hoá và hình tượng hoá câu đố đèn của Thám Xuân ở hồi thứ 22. Như trên đã nói, thả diều không những tượng trưng cho Thám Xuân lấy chồng xa không quay lại mà còn tượng trưng cho quá trình biến đổi kết cục việc đi lấy chồng xa ấy. Chúng tôi tìm hiểu kỹ đoạn văn tả chuyện thả diều trên để minh chứng những gì đã trình bày không phải là không có căn cứ. Thả diều và có hai cái diều phượng hoàng quấn lấy nhau rồi một cái có chữ hỷ long lanh , đúng là ngụ ý Thám Xuân có chồng sang. Còn như quá trình phức tạp cụ thể như thế nào, hiện khó đoán ra được. Các từ “quấn lấy nhau”, “cả ba cái chao đảo tít mù”v.v… rất có thể ngụ ý Thám Xuân có chồng sang nhưng thông xuôi buồm thuận gió mà gặp phải bà đào bão táp.. Có chồng sang là một đại hỷ giống như con diều to long lanh chữ “Hỷ”, tiếng sáo vi vu, nhưng đồng thời cũng là một đại hoạ. Cái “hỷ” của Thám Xuân chỉ là hoan lạc trong chốc lát, hết vui là đến hoạ. Khi cái diều chữ Hỷ kia quấn vào hai cái diều phượng hoàng thì không ngờ dây diều đứt cả, ba cái chao đảo tít mù. Thật đúng là “dây tơ đứt đoạn diều vô lực”. Rõ rang đứt dây dẫn đến nguyên nhân cơ bản của việc đi lấy chồng xa của Thám Xuân. Đứt dây ở đây ngụ ý gì? Căn cứ cảnh buồn rầu thê thảm của buổi biệt ly nói trong lời phán từ ở hồi thứ 5:

Cùng thông số đã định rồi
Hợp tan âu cũng duyên trời chi đây

Đại khái chúng ta đoán “đứt dây” ở đây ám chỉ có biến cố chính trị to lớn đang xảy ra. Và qua biến cố đó, Thám Xuân đương là địa vị vương phi bị truất làm thứ dân. Điều này đối với tính cách tự tôn, chí lớn như Thám Xuân mà xét thì rõ rang là một sự đã kích nặng nề. Càng đáng thương hơn nữa là phải lấy chồng xa một đi không trở lại. Cuộc hôn nhân của Thám Xuân có 3 điều bất hạnh. 1 là đang vui xảy ra đại biến, 2 là do ép buộc, Thám Xuân không thể làm chủ (buộc buộc xe xe cũng khó lòng) 3 là một đi không trở lại:

Đường xa mưa gió một chèo
Cửa nhà, ruột thịt thôi đều bỏ qua

Phân chia hai ngả từ nay
Dám mong giữ được ngày ngày bình yên
Con đi xin chớ lo phiền

Cốt nhục phân ly, gia đình vĩnh biệt, số phận long đong, làm sao yên ổn, làm sao không phiền, thứ tư, cuộc sống sau khi lấy chồng xa lại vô cùng bất ổn. Lời phán của Thám Xuân trong Bạc mệnh ty “Gặp lúc nhà suy vận cũng suy”… Đáng chú ý là đoản khúc “hư hoa ngộ”

Cảnh xuân nhìn đã rõ rồi,
Liễu xanh, đào thắm hãy ngồi xem sao
Thiều hoa đuổi sạch đi nào
Tìm nơi nhã đạm thanh cao khác đời
Kể chi đào nở trên trời
Kể chi nhị hạnh lựng mùi trong mây?
Rốt cùng nào có ai hay
Tiết thu đâu đã kéo ngay đến rồi

“Đào ở trên trời”, “nhị hạnh trong mây” rõ ràng ám chỉ
Nguyên Xuân làm hoàng phi, Thám Xuân làm vương phi, nhưng đó cũng chỉ là mộng ảo, cuối cùng “nào ai biết mùa thu đã đến” Nguyên Xuân vinh hoa, Thám Xuân phi tần rốt cục không tránh được hai chữ BẠC MỆNH. Thám xuân lấy chồng xa mở ra màn bi kịch của những cô gái trong Đại Quan Viên, đúng là:

Tam xuân khứ hậu chư phương tận
Các tự tu tầm, các tự môn
(Ba xuân tàn lụi, muôn hoa kiệt
Mỗi mỗi tìm về góc trú thân)
<

Advertisements

Leave a Comment »

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Create a free website or blog at WordPress.com.
Entries and comments feeds.

%d bloggers like this: