TIẾT BẢO THOA LUẬN VỀ HỌA

February 8, 2008 at 6:20 am | Posted in HỒNG LÂU MỘNG | Leave a comment

Thơ và họa xưa nay là có mối tương quan về mặt nghệ thuật nên thậm chí có người cho rằng họa là thơ có hình và thơ là họa vô ảnh. Tô Thức, đại thi nhân đời Tống từng nói : “Thi trung hữu họa, họa trung hữu thi” để đánh giá thành tựu nghệ thuật về phong cách đặc sắc trong thơ Vương Duy. Trong “Hồng Lâu Mộng” nhân vật Tiết Bảo Thoa vừa am tường về thơ vừa giỏi làm thơ, nhung về hội họa nàng cũng có những kiến giải rất đặc sắc. hồi thứ 42, tác giả “Hồng Lâu Mộng” đã biểu hiện đậm nét tài năng xuất chúng về phương diện này của Bảo Thoa, đọc lên rất thú vị và có phần gợi mở.
Về nguyên liệu và dụng cụ dùng trong hội họa Tiết Bảo Thoa rất sành sỏi, thể hiện một nét đặc điểm nhà nghề. Đối với giấy vẽ , nàng rất thạo. Khi bàn về giấy dùng để vẽ bức họa cảnh vui chơi trong Đại Quan Viên (Đại quan viên hành lạc đồ) nên dùng giấy gì, Bảo Ngọc nói: “Bảo Ngọc nói:- Ở nhà có giấy tuyết lãng, vừa rộng khổ, vừa ăn mực.Bảo Thoa cười nhạt: – Anh thật là vô dụng! Giấy tuyết lãng để viết chữ, để vẽ bức họa tả ý, hoặc để người biết vẽ sơn thủy vẽ tranh sơn thủy nhà Nam Tống, giấy vừa ăn mực mà lại không nhăn nhòe. Nếu vẽ vườn này bằng giấy ấy thì không ăn màu, lại khó khô, vẽ cũng không đẹp, phí cả giấy. Tôi bảo anh cách này: trước khi xây dựng cái vườn đã có một bức bản đồ vẽ tỉ mỉ rồi. Tuy là thợ vẽ vẽ ra, nhưng khuôn khổ, phương hướng đều rất đúng cả. Anh vào xin bà Hai bức vẽ ấy, đem ra xem rộng hẹp thế nào, rồi bảo chị Phượng cho một mảnh lụa, mang ra bên ngoài cho các họa sư bảo họ cứ theo khuôn khổ bức vẽ ấy, thêm bớt thành một bức vẽ, sau thêm nhân vật vào là được. Rõ ràng lời nói có kinh nghiệm trong nghề.
Chúng ta thử xem Bảo Thoa kê ra những nguyên liệu và dụng cũ vẽ tranh cho Tích Xuân thì đủ thấy Bảo Thoa hiểu biết rất tinh tường về hội họa như thế nào: – Bút quét loại nhất bốn chiếc, loại nhì bốn chiếc, loại ba bốn chiếc; bút chấm loại lớn bốn chiếc, loại vừa bốn chiếc, loại nhỏ bốn chiếc; bút vắt ngòi lớn mười chiếc, vắt ngòi nhỏ mười chiếc; bút kẻ mày mười chiếc, bút tô màu loại lớn hai mươi chiếc, loại nhỏ hai mươi chiếc; bút vẽ mặt mười chiếc, bút cành liễu hai mươi chiếc; son nhọn đầu, son nam, thạch hoàng, thạch thanh, thạch lục, quản hoàng, mỗi thứ bốn lạng; quảng hoa tám lạng, bột chì bốn hộp, phấn yên chi mười hai thếp; bột đỏ, bột lá mạ mỗi thứ hai trăm thếp; keo quảng quân, phèn lọc mỗi thứ bốn lạng. Keo phèn để quét lụa không kể, cứ đưa lụa cho họ để họ quét lấy. Những thuốc pha màu ấy, chúng ta phải nghiền nhỏ lọc sạch. Như thế vừa chơi vừa dùng, cô có thể dùng trọn đời cũng đủ. Lại phải lấy vợt lụa mau bốn cái, vợt lụa thưa hai cái; gác bút bốn cái, bát nghiền to nhỏ bốn cái, bát sành lớn hai mươi cái, đĩa to năm tấc mười cái đĩa sành trắng hai mươi cái, lò hai cái, nồi đất lớn nhỏ bốn cái, vại mới hai cái, thùng đựng nước mới hai cái, túi vải trắng dài một thước bốn cái, than xốp hai mươi cân, than gỗ liễu vài cân, hòm ba ngăn một cái, lụa dày một trượng, gừng sống hai lạng, tương nửa cân.” Nói một hơi, Bảo Thoa kê ra một danh sách dài bao gồm hầu hết những nguyên liệu và dụng cụ dùng trong hội họa đủ thấy nếu không thông hiểu không thể nói ra như thế được. Về phương diện này hầu như nàng đã thuộc nằm lòng, khi đọc lên khiến ta bội phục kiến văn quảng bác của Tiết Bảo Thoa. Diêu Tiếp trong “Thạch đầu ký” có phê: “Xem Tuết Bảo Thoa luận về hội họa, quả đúng là một họa sư. Người ngoài ngành không thể nói như vậy.” Lời bình luận thật hữu lý. Thử so sánh với Lâm Đại Ngọc, hầu như Đại Ngọc không nghiên cứu sâu về hội họa như Bảo Thoa. Khi nghe Bảo Thoa nói “gừng sống hai lạng, tương nửa cân.”Đại Ngọc cười nói:- Chảo một cái, bàn sản một cái.Bảo Thoa không hiểu ý thế nào. Đại Ngọc nói : “Chị bảo cần có gừng sống và tương thì tôi bảo lấy chảo hộ chị để nấu những thứ màu ấy mà ăn.” Mọi người đấu cười ầm lên. Bảo Thoa cười nói:- Cô thì biết cái gì? Những cái đĩa sành ấy không chịu được lửa, nếu không lấy nước gừng và tương xát dưới đáy trước mà đem đốt, gặp lửa một cái là nó nổ ngay.
Mọi người đều nói: “Phải đấy”. Cuộc đối thoại mang màu sắc khôi hài đùa cợt ấy, thông qua thủ pháp tô điểm so sánh, càng làm nổi bật sự hiểu biết rành rẽ của Bảo Thoa về nguyên liệu và công việc chuẩn bị để vẽ một bức tranh, trong đó đặc điểm biết rộng hiểu nhiều được thể hiện một cách rất hình tượng. Đồng thời qua một bản kê dài và qua lời đối thoại của Bảo Thoa, chúng ta có thể thấy nàng suy nghĩ rất tỉ mỉ, liệu việc chu đáo tường tận, thông hiểu đặc điểm tính chất một cách toàn diện, chả trách sau này nàng giúp một tay đắc lực cho Thám Xuân, Lý Hoàn điều hành việc nhà, đồng thời lo liệu việc đâu ra đấy , được mọi người trong phủ ca ngợi.
Điều làm chúng ta càng bội phục hơn nữa là những kiến giải về bản thân hội họa của Tiết Bảo Thoa. Chúng ta hãy nghe nàng trình bày: “Bây giờ vẽ cái vườn, nếu trong bụng không có một hiểu biết rộng thì vẽ sao nổi. Cái vườn này cũng giống như bức tranh, nào là đá núi, cây cối, nào là lâu đài nhà cửa, gần xa, thưa nhặt, đừng ít quá cũng đừng nhiều quá mà phải đúng mức. Nếu cứ theo thế vẽ lên trên giấy thì đẹp làm sao được. Phải xem khuôn khổ tờ giấy, nên để xa gần, nhiều ít thế nào, nên chia phần chính phần phụ ra sao, chỗ nào đáng thêm thì thêm, chỗ nào đáng bỏ, đáng bớt thì bỏ đi, bớt đi, cái gì đáng để lộ mới để lộ. Bắt đầu phải vẽ phác rồi ngắm nghía tính toán cẩn thận, mới thành công được bức vẽ. Điều thứ hai là, lâu đài nhà cửa phải chia giới hạn, sơ ý một tí là bao lan cũng lệch, cột cũng nghiêng, cửa sổ sẽ dựng ngược lên, thềm cũng không đúng chỗ, thậm chí bàn ghế cũng chen lên tường, chậu hoa bày ở trên màn. Như thế chẳng phải là vẽ ra một bức tranh để cười ư? Điều thứ ba là, phải xếp đặt nhân vật thưa hay nhặt, cao hay thấp, đều cho đúng chỗ. Nếp quần, dây lưng, ngón tay, bước chân cũng rất quan trọng; nếu sai một nét, không sưng tay cũng hóa kiễng chân, đến như bộ mặt mái tóc chỉ là việc nhỏ…” Lời bàn trên là lời bàn trứ danh về hội họa trong HLM rất được nhiều người sau chú ý. Trong đoạn này có thể bao gồm những nội dung về mấy phương diện sau : “Người xưa suy nghĩ sâu xa phát hiện không ngừng tìm ra ý mới, tạo ra cảnh mới, tất cả đều có vị trí, bố cục trước ở trong đầu” Và phải có suy nghĩ sâu xa mới có thể vẽ được toàn cảnh bức tranh vui chơi trong Đại Quan Viên. Thứ hai, nói sự chân thực của cuộc sống hoàn toàn không phải trông chờ vào sự chân thực của nghệ thật, không thể hoàn toàn dựa vào nguyên mẫu của cuộc sống, không phải đem cuộc sống phục chế lại một cách bất di bất dịch, nếu cứ thế mà sáng tác hội họa thì bức tranh sẽ giống hệt như thật và như thế không thể đạt được hiệu quả nghệ thuật một cách khả quan. Thứ ba, nghệ thuật cần phải chú trọng đến sự tái tạo cuộc sống. Sáng tạo nghệ thuật cần phải dụng công và mang chất khái quát , cần làm rõ ngôi vị chủ – khách, chúng tô điểm cho nhau, ẩn hiện kết hợp, thưa nhặt thỏa đáng, tăng giảm đúng mực, cần chú ý đến tính chân thật của những chi tiết nhỏ nhặt, hoàn toàn không được qua loa đại khái. Cách kiến giải như thế có thể nói là đã đạt trình độ hiểu biết rất cao, đó cũng là tổng kết sâu sắc về kinh nghiệm hội họa cổ đại Trung Quốc, nó có ý nghĩa không những đối với sáng tác hội họa mà còn mở rộng cho các ngành sáng tác nghệ thuật khác, nó có giá trị lý luận phổ biến.
Thực ra những hiểu biết của Bảo Thoa nêu trên chỉ là sự kế thừa và phát huy lý luận hội họa cổ điển Trung Quốc và cũng là sự giải thích có tính hình tượng về một số những môn luận mẫu mực về hội họa. Như Đổng Kỳ Xương đời Minh đã phát hiểu trong “Họa chỉ”: “Đọc vạn quyển sách, đi vạn dặm đường, lòng không còn vướng bụi trần, bỗng nhiên tỏ ngộ, tự thành phát thảo, rồi tiện tay vẽ ra sẽ thành bức sơn thủy truyền thần”. Điều Bảo Thoa nói: “Bây giờ vẽ cái vườn, nếu trong bụng không có một hiểu biết rộng thì vẽ sao nổi.” Không phải phù hợp với ý của Đổng Kỳ Xương đó sao? Hoặc như Trương Nhan Viễn đời Đường trong “Lịch đại danh họa ký” ông nói: “Phàm vẽ vật kỵ nhất là vẽ hình dáng hiện hữu cần phải biết rõ, thật cẩn trọng, thật tinh tế mà làm lộ ra cái khéo lép kín đáo bên trong của vật. Cho nên không suy nghĩ không được mà phải suy nghĩ đâu ra đấy” Lý Thành đời Ngũ Đại (907-960) cũng từng chỉ rõ trong tập “Sơn thủy quyết” như sau” Phàm vẽ tranh sơn thủy, trước hết xác định ngôi vị chủ khách, tiếp đến là hình thế viễn cận , sau đó mới tô vẽ, trau chuốt cảnh vật, bố trí cao thấp lồi lõm.” Mấy lời nói ấy so với mấy lời của Bảo thoa như : “ếu cứ theo thế vẽ lên trên giấy thì đẹp làm sao được. Phải xem khuôn khổ tờ giấy, nên để xa gần, nhiều ít thế nào, nên chia phần chính phần phụ ra sao, chỗ nào đáng thêm thì thêm, chỗ nào đáng bỏ, đáng bớt thì bỏ đi, bớt đi, cái gì đáng để lộ mới để lộ.” thật có nhiều điểm giống nhau. Ví như Đường Chí Khiết đời Minh trong “hội sự vi âm” đã nói : “Giỏi ẩn tức là không hẵn không hiện, giỏi hiện tức là không hẳn không ẩn” “Càng có chỗ ẩn càng hơn có chỗ hiện” và bức tranh sẽ càng thú vị”. Hai cách nói trên có thể gọi là đi cùng một đường. Tiết Bảo Thoa lại nói: “lâu đài nhà cửa phải chia giới hạn, sơ ý một tí là bao lan cũng lệch, cột cũng nghiêng, cửa sổ sẽ dựng ngược lên, thềm cũng không đúng chỗ, thậm chí bàn ghế cũng chen lên tường, chậu hoa bày ở trên màn. Như thế chẳng phải là vẽ ra một bức tranh để cười ư?” Điều này cũng rất giống với ý của Nhiêu Tự Nhiên đời Tống trong “Hội tông thập nhị chí” : “Phân giới hạn trong hội họa tuy là bước tầm thường nhưng lâu đài phòng ốc ngang dọc phải phân định rõ ràng từng thước từng phần, hoặc kèo cột rui mèn cong thẳng thế nào cũng phải theo thước tấc quy cũ thì thâth là thiên nan vạn nan” Nhưng lại được Bảo Thoa nói lên rất hình tượng tỉ mì bằng thứ ngôn ngữ hài hước nhẹ nhàng bày tỏ hết những chủ trương về hội họa của mình. Theo những điều trình bày trên, chúng ta có thể thấy Tào Tuyết Cần đã nghiên cứu, trau dồi hội họa một cách đầy đủ và đã trình bày lý luận hội họa cổ đại Trung Quốc một cách khéo léo , giàu hình tượng.
Cùng với nội dung của hội họa, Tiết Bảo Thoa còn có cách phối màu riêng của mình khá đặc sắc, phản ánh quan điểm về thẫm mỹ của mình. Ví dụ như hồi thứ 35 có một đoạn nói về cách phối màu để tết sợi dây đeo ngọc của Bảo Ngọc đã để lại ấn tượng sâu sắc. Oanh Nhi đang tết dây đeo ngọc cho Bảo Ngọc. Bảo Ngọc hỏi Bảo Thoa tết màu gì cho đẹp được? Bảo Thoa nói:: “- Các màu thường nhất định không thể dùng được. Màu đỏ lại lẫn màu. Màu vàng thì không nổi, màu đen thì tối quá. Cứ ý tôi, nên lấy chỉ kim tuyến xe lẫn với chỉ đen bóng, sợi nọ xe lẫn sợi kia, tết như thế mới đẹp.” Đoạn thoại trên nói lên quan điểm thẫm mỹ của Bảo Thoa về cách phối màu. Nàng cho rằng nếu dây ấy chỉ dùng một màu, như màu đỏ chẳng hạn thì quá nổi, màu vàng thì không bắt mắt mà màu đen thì quá tối, cuối cùng chỉ có cách dùng thứ chỉ kim tuyến xe với chỉ đen bóng để tết dây là tốt nhất, vì chỉ có thể đậm nhạt mới phù hợp, sáng tối mới hài hòa, vừa giản dị vừa tự nhiên, vừa có hiệu quả toàn bích về màu sắc. Nếu Bảo Ngọc dùng sợi dây trang sức có màu sắc xinh đẹp như thế này đeo viên ngọc thông linh thì thần thái phiêu dật, đặc sắc vô ngần, càng khiến người ta chú ý, làm người ta điên đảo si tình. Điều này cho thấy chỉ một yếu tố nhỏ trong sinh hoạt hằng ngày cũng thể hiện nhãn quan thẩm mỹ của Bảo Thoa, đương nhiên trong đó có đẫm một chút tình, có lồng một chút ý đối với Bảo Ngọc.
Tào Tuyết Cần vốn yêu thích hội họa nhưng vì cuộc sống nghèo túng, chán chường, ông đã từng đem tranh bán để đổi rượu, hai câu thơ sau đây của Đôn Mẫn là bằng chứng

”Đề thi nhân khứ lưu tăng xã
Mãi họa tiền lai phó tửu gia”
(Người đi thơ vịnh lưu chùa Phật
Tránh bán tiền đem trả tửu gia)

Tương truyền Tào Tuyết Cần rất sành vẽ trúc, vẽ đá, và thường gởi gắm tâm sự của mình vào tranh. Đôn Mẫn có bài tứ tuyệt nhan đề: “Đề Cần Phố họa thạch” (Bài vịnh bức tranh đá của Tào Tuyết Cần)

“Ngạo cốt như quân thế dĩ kỳ
Lân tuần cánh kiến thử chi li
Túy dư phần tảo như suyền bút
Tả xuất hưng trung cỗi lỗi thì”
(Rắn rỏi như ông thế đã kỷ
Gầy trơ càng rõ dáng suy vi
Say khướt bút tài vung tay vẽ
Giải bày tâm cang bất bình chi)

Qua bài thơ trên ta thấy Tào Tuyết Cần đã mượn cái cốt cách cứng cỏi của đá để bày tỏ cá tính khinh thế ngạo vật của mình. Phải từng trải như thế nào, phải nghiên cứu trau dồi nghệ thuật như thế nào, ông mới có thể khéo léo mượn lời nhân vật Tiết Bảo Thoa để thể hiện những kiến giải nghệ thuật hội họa, những rung cảm thẫm mỹ của mình qua tác phẩm HLM một cách đầy hình tượng như vậy.
Ngày nay không phải vì chúng ta không xem được những tác phẩm hội họa của Tào Tuyết Cần, không đọc được những tác phẩm lý luận về hội họa của ông mà lấy làm đáng tiếc, hay ân hận, bởi vì dù sao ông cũng đã để lại cho chúng ta công trình bất hủ muôn đời, đó là tác phẩm trứ danh HLM. Chúng ta hãy đọc HLM vì ở đó thể hiện rất đầy đủ những tư tưởng thẫm mỹ những chủ trương nghệ thuật của Tào Tuyết Cần, đó là một kho nghệ thuật quý báu lấy hoài không hết, dùng hoài không kiệt!

Tuesday April 17, 2007 – 08:56pm (ICT)

BA LẦN CHÔN HOA
(Trích mạn đàm HLM)

Nếu muốn hỏi HLM miêu tả mấy lần chôn hoa, thì sẽ có người nói có hai lần, trong hồi thứ 23 “Mượn câu văn Tây Sương Ký giở giọng giỡn đùa, nghe khúc hát Mẫu đơn đình chạnh lòng hờn tủi” (Tây sương ký điệu từ thông hí ngữ, Mẫu đơn đình diễm khúc cảnh phương tâm), Bảo Ngọc và Đại Ngọc chôn hoa, và trong hồi thứ 27 “Đình Trích Thúy Dương phi đùa bướm trắng, Mộ Mai hương Phi Yến khóc hoa tàn” (Trích Thúy đình Dương phi hí thái điệp. Mai Hương trũng Phi Yến khấp tàn hồng), Đại Ngọc chôn hoa và lần ấy Đại Ngọc ngâm khúc “Táng hoa từ”. Nhưng thực ra, sau hai lần ấy còn có một lần chôn hoa nữa mà bị mọi người lãng quên, đó là hồi thứ 62 với tiêu đề “Tương Vân ngây thơ, ngủ trên hoa thược dược; Hương Lăng trơ trẽn, cởi tấm quần hồng lăng.” (Hàm Tương Vân túy miên thược dược nhân, Ngai Hương Lăng tình giải thạch lựu quần), Bảo Ngọc chôn hoa.
Lần chôn hoa thứ nhất xẩy ra sau khi bọ Đại Ngọc chuyển vào Đại Quan Viên không bao lâu, thời gian là giữa tháng 3, vai chính là Bảo Ngọc và Đại Ngọc, hoa đem chôn là hoa đào. Như Thư Vu tiên sinh nói: “Lần chôn hoa này có ánh xuân nồng đượm, có tình yêu thanh khiết, có lời ca thi vị, ba yếu tố này hòa quyện vào nhau.” Lầm chôn hoa này ít nhiều mang sắc thái tươi vui, Bảo Ngọc và Đại Ngọc tuy ít lời nhưng lại dùng ngôn từ trong “Tây sương ký” để gợi ý tình yêu, và lần đầu tiên họ dám bày tỏ tình yêu với nhau. Nhưng tình cảnh chôn hoa lần thứ hai hoàn toàn khác lần trước. Thời gian là ngày 26 tháng 4, tức nhằm vào tiết mang chủng. Theo phong tục xưa, vào ngày tiết Mang chủng bắt đầu, người ta bày đủ sắc lễ vật để cúng tiễn thần hoa, nói quá tiết mang chủng tức là nói mùa hạ bắt đầu, mọi hoa đều rơi rụng, thần hoa thoái vị cần phải tiễn đưa. Lần này chỉ có một mình Đại Ngọc đi chôn hoa. Hoa đem chôn không phải chỉ có một loài mà gồm tất cả các loài như phượng tiên, thạch lựu… Bài “Táng hoa từ” của Đại Ngọc thật bi thương khiến cho lần chôn hoa này mang không khí ảo não buồn rầu, đến nỗi Bảo Ngọc khi nghe mấy câu như :

Giờ hoa rụng có ta chôn cất,
Chôn thân ta chưa biết bao giờ.
Chôn hoa người bảo ngẩn ngơ,
Sau này ta chết, ai là người chôn?
Ngẫm khi xuân muộn hoa tàn,
Cũng là khi khách hồng nhan về già.
Hồng nhan thấm thoắt xuân qua,
Hoa tàn người vắng ai mà biết ai!

bất giác đứng ngẩn người ra, ngã vật xuống đất.
Tình cảnh lần chôn hoa này so với lần chôn hoa thứ nhất với chất vui tươi trong tình yêu tuyệt diệu tạo thành hai cảnh tượng đối lập. Miêu tả hai lần chôn hoa đều có ngụ ý sâu sắc, nó không chỉ nói lên cái bi kịch tình yêu giữa Bảo Ngọc và Đại Ngọc hay điềm báo trước không may về số phận của Đại Ngọc mà còn là lời dự báo cho số phận đáng thương của đa số nữ nhi nói chung, nói như lời Nghiễn Chi Bình nói: “Táng hoa từ” là lời dự báo về kết cục đối với những cô gái đẹp ở Đại Quan Viên, cho nên lấy đúng ngày tiễn hoa để làm thời điểm chôn hoa.”
Hai lần chôn hoa nói trên hầu như mọi người ai cũng biết có lẽ vì hai lần miêu tả ấy quá đặc sắc, rõ ràng , nhất là lần chôn hoa thứ hai gây ấn tượng sâu sắc đến nỗi nói đến chôn hoa, người ta nghĩ ngay đến Lâm Đại Ngọc. Nhưng người ta rất ít đề cập đến lần chôn hoa thứ ba trong HLM, lần chôn hoa này do Bảo Ngọc chủ trì. Bảo Ngọc chôn hoa nhằm vào ngày sinh nhật của chàng. Đó là một ngày sau tiết thanh minh không lâu, cùng với ngày sinh nhật của Bảo Cầm, Tụ Yên, Bình Nhi. Chuyện xảy ra như thế này: Sau khi Bảo Ngọc cùng đám con gái chơi trò tửu lệnh “đánh toan” uống rượu trong vườn “hồng hương”, Hương Lăng, Phương Quan cùng các cô gái chơi trò đấu cỏ. Người này nói: “Tôi có cây liễu Quan Âm”; người kia nói: “Tôi có cây thông La Hán”. Người này nói: “Tôi có cây trúc Quân Tử”; người kia nói: “Tôi có cây chuối Mỹ Nhân”. Người này nói: “Tôi có cỏ tinh tinh”(12); người kia nói: “Tôi có hoa nguyệt nguyệt”(13). Người này nói: “Tôi có hoa mẫu đơn trong vở Mẫu Đơn đình”; người kia nói: “Tôi có quả tỳ bà trong bản Tỳ bà ký”. Đậu Quan nói: – Tôi có cành hoa “tỉ muội”. Nghe vậy không ai đáp lại, Hương Lăng liền nói: – Tôi có cánh huệ “phu thê”. Đậu Quan nói: – Xưa nay chẳng thấy ai nói cánh huệ “phu thê” cả. Hương Lăng nói: – Một cành có một bông hoa gọi là “lan”, một cành có mấy bông hoa gọi là “huệ”. Trên dưới đều có hoa thì gọi là cánh huệ “huynh đệ”; hoa nở ngang nhau thì gọi là cánh huệ “phu thê”. Chùm hoa này của tôi nở liền nhau, chẳng phải cánh “phu thê” là gì? Thực ra lối giải thích của Hương Lăng chưa hẳn đã thuyết phục được Đậu Quan, nhưng nó không cãi lại được, chỉ cười nói: – Cứ như chị nói thì một bông hoa lớn, một bông hoa bé là cánh huệ “bố con”; bông hoa quay lưng lại nhau thì gọi là cánh huệ “kẻ thù” à? Chồng chị đi vắng hơn nửa năm nay, chị nhớ anh chàng, nên nhìn chùm hoa, cũng bảo là hoa vợ chồng, không biết xấu hổ!”
Thế rồi hai người đấu khẩu với nhau, xô đẩy nhau, Hương Lăng ngã trên vũng nước bị ướt luôn cả chiếc quần mới. Sau đó, Bảo Ngọc đem lại một cành hoa tịnh đế đến trước cành huệ phu thê của Hương Lăng, thấy Hương Lăng ướt hết cả chiếc quần mới, Bảo Ngọc nảy ra ý định lấy chiếc quần Tập Nhân mới may cho mình để hương Lăng thay. Tiếp theo sách HLM tả:
“Hương Lăng thấy Bảo Ngọc ngồi xổm dưới đất, lấy cành cây đào một cái hố, rắc hoa rụng vào đấy, rồi chôn chùm hoa “phu thê” và cành hoa “tịnh đế” xuống, lại phủ hoa rụng lên trên, lấp đất lại. Liền kéo tay Bảo Ngọc cười nói:
– Cậu lại làm cái trò gì đấy? Không trách ai cũng bảo cậu hay chơi ma chơi mãnh, làm cho người ta ghê cả người. Xem kìa! Tay cậu dính đầy bùn và rêu, không rửa ngay đi à?
Bảo Ngọc cười, đứng dậy đi rửa tay, Hương Lăng cũng quay về.”
Cũng cần nói hai lần chôn hoa trước, sách không miêu tả việc chôn hoa như thế nào, chỉ có lần này mới tả quá trình chôn hoa một cách cụ thể. Trong lần chôn hoa này, tác giả không những tả đến cái “bẽn lẽn” của Hương Lăng như câu thơ ở đầu hồi nói “Hương Lăng bẽn lẽn cởi tấm quần hồng lăng” mà còn tả cái “si” của Bảo ngọc một cách sinh động. Hộ Hoa chủ nhân bình giá đoạn này như sau: “Bảo Ngọc chôn cành huệ phu thê, cành hoa tịnh đế rồi nhìn thấy chuyện chải chuốt của bọn Bình Nhi, Uyên Ương…chính là muốn tả hai chữ dâm ý “. Lời nói này quả là không sai.
Bảo Ngọc chôn hoa e không chỉ biểu thị hai chữ dâm ý mà lần chôn hoa này cũng có ngụ ý sâu sắc như hai lần chôn hoa trước. Sự thể như sau: Lúc Hương Lăng chơi đấu cỏ, cô cầm chùm hoa huwj phu thê nhập thành một đôi với cành tịnh đế của Bảo Ngọc, rồi tiếp đến hồi thứ 63 liền đó “viện Di Hồng chị em mở tiệc” chơi trò gieo súc sắc rút thăm, Hương Lăng rút đúng thăm có cành hoa tịnh đế, trên đó ghi: “Liên xuân nhiễu thụy” (điềm xuân liên tiếp), trên mặt thăm có ghi câu thơ cổ: “Liên lý chi đầu hoa chính khai” (liền cành hoa nở phân phân) Câu này lấy từ bài “Hoa lạc” của Chu Thục Trinh đời Tống. Cả bài như sau:

”Liên lý chi đầu hoa chính khai,
Đố hoa phong vũ tiện tương thôi
Nguyện giao thanh đế trường vi chủ
Mạc khiển phân phân lạc thúy đài”

Tạm dịch

Liền cành hoa nở phân phân
Nhưng mưa gió ghét chơi khăm hoa tàn
Mong thần xuân mãi ngôi sang
Để cho hoa khỏi rụng tràn rêu xanh

Xét cả toàn bài, tuy Hương Lăng có điều vui là “liền cành” nhưng lại bị “mưa gió ghét chơi khăm hoa tàn”. Đó chính là chỗ Hương Lăng bị người phụ nữ đố kỵ là Hạ Kim Quế đẩy nàng vào cảnh sống bi thảm. Điều nàyphù hợp với lời phán từ ở hồi thứ 5 như sau:
Từ lúc cây trồng hai chỗ đất
Hương hồn trở lại chốn quên nhà
Rõ ràng ứng với nhân vật Hương Lăng. Cho nên Bảo Ngọc chôn cành hoa huệ phu thê với cành hoa tịnh đế là ám chỉ cái kết cục bất hạnh của Hương Lăng.
Điều khiến người ta cảm thấy có ý vị thâm trầm là tiếp sau việc Bảo Ngọc chôn hoa trong ngày sinh nhật của mình thì đến việc chị em mở tiệc ở viện Di Hồng. Trong buổi tiệc này, khi thi hành tửu lệnh, chị em mỗi người rút một thẻ hoa, Bảo Thoa rút cành hoa mẫu đơn, Thám Xuân rút cành hoa hạnh, Lý Hoàn rút cành hoa mai, Đại Ngọc rút cành hoa phù dung, Tương Vân rút cành hoa hải đường, Tập Nhân rút cành hoa đào, Xạ Nguyệt rút cành hoa đỗ mi, mỗi cành hoa đều ẩn dụ tính cách và số phận của từng người. Đêm hôm đó, các cô gái vui đùa một đêm thỏa thích, họ uống rượu, ca hát chơi đến lộ ra bản chất, chơi đến quên cả bản thân, hay nói như lời Tập Nhân “quên cả xấu hổ”.Đấy đúng là một đêm vui đùa tự do thoải mái mà từ trước chưa từng xẩy ra ở Đại Quan Viên nhưng cũng kể từ đấy, Đại Quan Viên không bao giờ có được cảnh tượng như vậy nữa. Đêm “chị em mở tiệc ở viện Di Hồng” thành ra là đêm hoan lạc duy nhất của đám nữ nhi thanh xuân ở Đại Quan Viên.

Tuesday April 17, 2007 – 08:56pm (ICT)

TÂM HƯỚNG HỒNG TRẦN VÀ TÂM HƯỚNG PHẬT MÔN
(Trích Mạn đàm HLM)

Tiết Thụy Sanh khi bàn về Diệu Ngọc có nói một đoạn rất sau sắc như sau:
”Trong HLM có hai nhân vật có phạm vi sinh hoạt và tính cách hoàn toàn tương phản, đó là Diệu Ngọc trong “Hồng Lâu Tam Ngọc” và Tích Xuân trong “Phủ Giả Tứ Xuân”. Diệu Ngọc có thân ở cửa Phật nhưng tâm tại cõi trần, rốt cuộc phải về với cõi trần, còn Tích Xuân thân tại cõi trần như tâm hướng cõi Phật và cuối cùng đã đi theo cõi Phật. Một người dũng cảm ra đi, một người đau khổ trở lại đều là tấn bi kịch bi thương ngang trái . (Hồng lâu tiễn luận)
Đọc đoạn văn trên khiến người ta phải suy nghĩ. Ở đây, chúng ta xem hai cô gái này cùng thuộc trong chính sách thập nhị Kim Thoa cuối cùng định rõ tấn bi kịch của hai cô gái, một theo về với cõi trần , một đi theo hướng cõi phật.

Phần 1: Diệu Ngọc

Diệu Ngọc theo Phật chỉ là sự bắt đắc dĩ, bị động theo Phật đối với cô đúng là một sự ràng buộc về mặt tinh thần. Về lai lịch xuất thân của cô, tiểu thuyết chỉ cho biết qua lời kể của Lâm Chí Hiếu và Hình Tụ Yên. Theo họ nói thì cô Diệu Ngọc vốn là người Tô Châu, tổ tiên cũng xuất thân con nhà sĩ hoạn thi thư. Vì từ nhỏ cô hay bệnh, dù đã mua nhiều người thế thân nhưng bệnh vẫn không khỏi, về sau tự mình vào cửa Phật thì bệnh lành hẳn, thế là cô để tóc đi tu pháp danh Diệu Ngọc. Sau đó cha mẹ đều qua đời, tự thấy bọn quyền thế không ưa, lại không thể yên thân ở chốn quê nhà, cô đành bôn tẩu lên kinh thành. Gặp khi Giả phủ đón Nguyên phi tỉnh thân, cô bèn đến Đại Quan Viên, lúc ấy cô đã mười tám tuổi. Bên cạnh chỉ có hai bà già và một đứa ở nhỏ hầu hạ.Cô văn hay chữ tốt, kinh kệ lầu thông, vóc dáng xinh đẹp.
Là một tiểu thư con quan ngàn vàng, Diệu Ngọc vốn thích hợp với cuộc sống vinh hoa phú quý, vui chơi khoái lạc, không lo không phiền. Nhưng nàng buộc phải xuất gia đầu Phật , bầu bạn với đèn xanh Phật cổ, ngày chuông sớm trống chiều , tâm hồn tự nhiên trở nên buồn rầu ảo não.
Vốn bất đắc dĩ bị cha mẹ gởi vào cửa Phật, tâm hồn cô không thể an định được. Huống hồ nay cô lại đến kinh thành vào sống ở am Lũng Thúy trong Đại Quan Viên. Thế giới bên ngoài của am Lũng Thúy vô cùng tuyệt diệu. Chung quanh phủ Giả đầy tiếng ca thanh đờn địch, thú vui chơi của đám nam thanh nữ tú ở Đại Quan Viên có một sức mê hoặc mãnh liệt đối với cô. Do đó, Diệu Ngọc không thể chuyên tâm tu tĩnh đạo Phật, nàng còn mê luyến và ham thích cuộc sống của cõi nhân sinh vô cùng mạnh mẽ, lòng nàng vẫn bừng cháy tuổi xuân nóng bỏng.
Trong toàn bộ tác phẩm HLM, có tất cả 8 lần nói đến Diệu Ngọc, ngoài hai lần đầu và cuối giới thiệu sự xuất hiện và kết cục , còn lại 6 lần trong đó có đến 5 lần tả Diệu Ngọc đều có liên quan đến Giả Bảo Ngọc. Có thể nói trong 5 lần Diệu Ngọc tiếp xúc với Bảo ngọc, tác giả hầu như lất đó để khắc họa tính cách của cô. Năm lần miêu tả ấy là: lần thứ nhất hồi thứ 41, uống trà ở am Lũng Thúy; lần thứ hai hồi thứ 50 xin hồng mai trong ngày giá tuyết; lần thứ 3 hồi thứ 63 thiệp mừng sinh nhật Bảo Ngọc, lần thứ 4 hồi thứ 87 tại Lục Phong hiên xem cờ vây, nghe đờn bên quán Tiêu Tương, và khi ngồi thiền bị ám ảnh tẩu hỏa nhập ma, lần thứ 5 hồi thứ 95 vì Bảo Ngọc đi cầu tiên. Trong 5 lần ấy, tác giả khi minh khi ám, hoặc đậm hoặc nhạt đều ít nhiều nói về mối quan hệ tế nhị giữa Diệu Ngọc và bảo Ngọc chỉ ra mối dây tình vướng víu giữa Diệu Ngọc ở chốn Phật Môn và Bảo Ngọc ở tại hồng trần. Hai lần sau của người tục biên miêu tả chúng ta tạm gác lại , còn 3 lần trước chúng ta cần suy ngẫm kỹ càng.
Hồi thứ 41, Giả mẫu đưa bà Lưu đến am Lũng Thúy uống trà, đi theo còn có Bảo Ngọc , Đại Ngọc, Bảo Thoa. Bà Lưu là một bà nông dân, dưới con mắt Diệu Ngọc thì bà là tục khách, không chịu được, nên chén trà rót mời bà Lưu uống nàng sợ bẩn không lấy lại đến nỗi Bảo ngọc lấy làm khó chịu, thương cảm cho bà Lưu và yêu cầu Diệu Ngọc cho hẳn bà Lưu cái chén ấy để bà bán kiếm ít tiền độ nhật. Nhưng Diệu Ngọc nói: “- Thôi được. May tôi chưa uống đến cái chén ấy bao giờ. Đã uống rồi thì tôi đập đi, không khi nào đem cho bà ấy. Cậu muốn cho bà ấy, xin mang ngay đi.” Như vậy có thể thấy trong số những người uống trà trước nay, bà Lưu là hạng thấp nhất. Giả mẫu vốn là “lão tổ tông” của Giả phủ, bà là “thái thượng hoàng”, địa vị của bà rất cao, ai dám không trọng, ai dám không kính! Tuy Diệu Ngọc dùng cái chén Thanh Châu năm màu và pha loại trà “lão quân mi” tự tay dâng lên, nhưng trong mắt Diệu Ngọc, bà già này cũng chỉ có thể xếp vào hạng ba, nghĩa là trên Bà Lưu một cấp thôi, còn hạng nhì là Đại Ngọc và Bảo Thoa, họ được mời uống loại trà “kê kỷ hoa”. Còn hạng cao nhất tự nhiên là Bảo Ngọc rồi , và Diệu Ngọc có chủ ý “lấy chén ngọc xanh của mình thường dùng pha cho Bảo Ngọc”, chi tiết này có thể gọi là cô đã có tình cảm đặc biệt rồi vậy. Điều đó cho thấy chàng thanh niên xinh đẹp phong lưu, thoải mái này đã chiếm một vị trí quan trọng trong tâm hồn của Diệu Ngọc. Khi Giả mẫu rời am Lũng Thúy ra về, Diệu Ngọc “cũng không giữ lại, chỉ đưa Giả mẫu đến ngoài cửa rồi dùng nước sạch tẩy uế, đấy cũng chứng tỏ cô có ý miệt thị những kẻ quan quyền quý tộc, bọn tục khách chốn hồng trần, và cũng chứng tỏ cô là người trong sạch, thanh khiết. Nhưng chính cô lại lấy cái chén “ngọc xanh” của mình thường dùng mà rót trà mời vị khác thiếu niên khac phái nọ. Còn pha trà cho Đại Ngọc và Bảo Thoa thì dùng hai chén quý nhất trên đời là “điểm bình kiều” và “cô bạc giá”. Điều này chẳng phải nói rõ trong lòng Diệu Ngọc đã có một thứ cảm mến đặc biệt đối với Bảo Ngọc đó sao? Rốt cuộc, Diệu Ngọc thân tại cửa Phật mà lòng tại cõi trần, cái bộ áo cà sa kia khó có thể ngăn cản cô có tình ý với Bảo Ngọc, hình thức dùng chén pha trà mời Bảo Ngọc như thế rõ ràng biểu hiện sự dũng cảm của cô vượt ra khỏi cửa Phật và vượt ra khỏi những vây bọc của chốn tu hành để hướng về Bảo Ngọc hầu thể hiện những tình ý đặc biệt của cô. Nhưng Bảo Ngọc không dễ dàng thấu suốt nỗi khổ tâm của Diệu Ngọc bởi vì chính chiếc áo cà sa trên người và chuỗi tràng hạt trên cổ của Diệu Ngọc đã che khất tầm nhìn của Bảo Ngọc.
Hồi thứ 50, chi tiết Bảo Ngọc đi xin cành hồng mai ở chỗ Diệu Ngọc cũng nói ra mối quan hệ vi diệu giữa hai người. Bảo Ngọc nhân làm câu đối không đạt bị Lý Hoàn đánh hỏng, tự mình thừa nhận không biết làm câu đối, mong xã trưởng Lý Hoàn nới tay nhưng Lý Hoàn lại phạt chàng phải đến am Lũng Thúy của Diệu Ngọc xin về một cành hồng mai. Mọi người cho lối xử phạt ấy vừa nhã vừa thú. Bảo Ngọc vui vẻ đáp ứng. Lý Hoàn bảo cho người đi theo nhưng Đại Ngọc ngăn lại nói: “Không cần, có người đi theo sẽ không xin được hoa đâu. “ Khi Bảo Ngọc đi rồi, mọi người bàn luận tiêu đề bài thơ chờ khi Bảo Ngọc về sẽ thực hiện. Tương Vân nói: “Bắt anh ấy làm bài thơ “Đến thăm Diệu Ngọc xin cành hồng mai” Như thế chẳng thú lắm sao! Lát sau, quả nhiên Bảo Ngọc xin được cành mai hớn hở đem về, mọi người khen ngợi. Bảo Ngọc cười nói: “Bây giờ chị em thưởng ngoạn đi. Không biết tôi đã mất bao nhiêu hơi sức mới xin được đấy” Vì sao Bảo Ngọc nghe nói liền đội tuyết đi xin? Vì sao Đại Ngọc nói có người đi theo không xin được hoa? Vì sao Bảo Ngọc trở về lại nói mất bao nhiêu hơi sức? Vì sao Diệu Ngọc lại có thể bẻ cành hồng mai xinh đẹp như thế đem cho Bảo Ngọc? Những điều ấy đáng để cho quý độc giả suy ngẫm, những điều ấy ít ra cũng nói rõ giữa Bảo Ngọc, Diệu Ngọc đã có tình cảm tốt đẹp với nhau rồi.
Hồi thứ 63, bốn người Bảo Ngọc, Bảo Cầm, Tụ Yên, Bình Nhi cùng một ngày sinh nhật. Tụ Yên vốn có quan hệ vừa bạn vừa thầy với Diệu Ngọc, nàng giới thiệu về Diệu ngọc như sau:
“Chúng tôi đã ở gần nhau hàng mười năm trời, chỉ cách nhau có một cái tường thôi. Cô ấy tu ở chùa Bàn Hương, nhà tôi vốn nghèo, phải thuê một gian buồng ở trong chùa ấy suốt mười năm. Lúc rỗi tôi thường đến chơi với cô ấy. Tôi biết ít chữ cũng là nhờ cô ấy dạy cho cả. Tôi đối với cô ấy đã là bạn chơi lúc nghèo hèn, lại có tình thầy trò nữa. Khi chúng tôi đi đến nhà cô tôi, có nghe nói cô ấy không hợp với đời, bọn quyền thế không ưa, nên phải đến ở đây. May sao chúng tôi lại gặp nhau, tình cũ vẫn chưa thay đổi, cô ấy đối với tôi mối tình lại hơn ngày trước.”
Xem thế đủ thấy hai người biết nhau từ lâu, tình nghĩa mặn nồng nhưng Diệu Ngọc đối với ngày sinh nhật của Tụ yên lại không thể hiện điều gì, trong khi đó, viết thiếp mừng sinh nhật Bảo Ngọc: “Người ngoài cửa là Diệu Ngọc kính chúc sinh nhật”. Điều này chứng tỏ mối tình đã chớm, cõi lòng khó bình ổn, thế là nàng chủ động hiến dâng cho Bảo Ngọc cả tấm chân tình của mình. Nhưng Bảo Ngọc lại không hiểu tâm lý Diệu Ngọc, cầm tấm thiếp đưa cho Tụ yên xem, Tụ Yên cho là Diệu Ngọc vẫn giữ thói ngông kỳ quặc viết thiếp mà lại để biệt hiệu thật đúng như tục ngữ thường nói: “Tăng không phải tăng, tục không phải tục, gái không phải gái, trai không phải trai”. Thực ra Tụ Yên hiểu lầm ý Diệu Ngọc. Tiểu thuyết nhân chi tiết này mà chú trọng miêu tả Diệu Ngọc tuy thân tại Phật môn mà tâm hướng cõi trần như thế nào, và cho thấy trong lòng Diệu Ngọc đã manh nha theo đuổi tình yêu.
Những tình thơ ý họa rong Đại Quan viên có một sức hấp dẫn đối với Diệu Ngọc vì khí chất, tài hoa, cốt cách của cô có nét giống với những cô gái trong vườn Đại Quan. Hồi thứ 76, Đại Ngọc và Tương Vân làm thơ liên cú ở quán Ao tinh hầu như suốt một đêm. Và trong đêm ấy, Diệu Ngọc cũng không ngủ được, từ Đại Quan viên, tiếng đờn ca địch thổi vang vọng hấp dẫn cô, dưới ánh trăng thu như làn lụa mỏng, cô đứng một mình trên lan can, bên cạnh núi đá yên lặng thưởng thức những câu thơ liên cú “thanh nhã dị thường” của Đại Ngọc và Tương Vân. Khi hai người đọc xong câu “Hàn đường độ hạc ảnh” (bóng hạc qua ao lạnh) và “Lãnh nguyệt táng thi hồn” (hồn thơ chôn chặt dưới vành trăng trong) rồi cùng nhau xưng tụng hay lạ và có thi nghệ cao diệu thì lúc ấy có một bóng người từ sau núi đá phía ngoài lan can đi ra, cười nói: “- Thơ hay lắm, hay lắm! Nhưng buồn thảm quá, không nên làm tiếp nữa. Nếu cuối bài cứ thế thì không nổi bật được hai câu này, lại thành ra gò ép.” Hai người đang không để ý, giật nẩy mình, nhìn kỹ ra không phải ai lạ, chính là Diệu Ngọc. Thế là ba người cùng đi đến am Lũng Thúy uống trà. Diệu Ngọc yêu cầu Đại Ngọc và Tương Vân đọc lại tất cả những câu thơ liên cú, cô tự tay lấy giấy bút ghi lại từ đầu đến cuối. Sau đó thi hứng bột khởi, cô làm luôn một hơi mười ba vần rồi cộng với hai mươi hai vần nữa thành ba mươi lăm vần, bảy mươi câu. Đại Ngọc, Tương Vân không ngớt khen ngợi. Họ nói: “- Thế mới biết ngày nào chúng ta cũng bỏ chỗ gần đi tìm chỗ xa. Hiện có bậc thi nhân ở đây, mình lại cứ “bàn việc binh trên giấy”. Trời gần sáng, hai người từ giả Diệu Ngọc ra về, lúc ấy “Diệu Ngọc tiễn chân ra đến cửa ngoài, chờ cho họ đi xa rồi mới đóng cửa trở vào.”Thật khác với cảnh tiễn Giả mẫu uống trà năm nọ.
Những câu thơ làm nối của Diệu Ngọc phản ánh rõ ràng thế giới nội tâm của cô. Cô vốn có cảm nhận sâu sắc đối với những câu thơ buồn thảm của Đại ngọc và Tương Vân rồi tự mình cao hứng làm tiếp mười ba vần nữa như muốn “xoay chuyển” tứ thơ sầu não, ai oán của hai người nhưng do đêm sắp tàn, ngày sắp lên, bèn nghĩ tiếng gà gáy sáng, tiếng chuông mai lảnh lót mà lòng thì trĩu nặng khổ đau, nên những câu thơ của cô lại hiện ra những giai điệu ai oán thê lương hơn. Ví dụ như:

“Nghe tiêu gái góa nỉ non,
Ôm chăn nhờ có a hoàn ủ cho.
Màn không, phượng những thẫn thờ,
Bình phong quạnh quẽ, uyên vơ vẩn hồn.
Rêu kia móc đọng, thêm nhờn,
Trúc kia sương nặng càng trơn khó cầm.”

Đặc biệt là hai câu

“Tình riêng ta chỉ biết ta,
Thú vui sao phải nhỏ to cùng người!”

Đã nói ra nỗi cô tịch của cô trong những năm dài của tuổi thanh xuân tu tập ở cửa Phật đã thể hiện khối u uất , sầu oán, và nỗi buồn phiền không biết ngỏ cùng ai của cô. Ba cô gái son trẻ ấy đều là những người không cha không mẹ, đều là kẻ ăn nhờ ở đậu, xa gia đình, xa người thân. Đối mặt với vầng trăng thu vành vạnh xa xa nghe tiếng đờn tiếng sáo vang vọng, nỗi lòng cuồn cuộn, tự lấy thơ mình để bày tỏ nỗi bất hạnh của thế nhân, bộc lộ nỗi u sầu trong tâm khảm. Cảnh ấy tình này, thật khiến cho nỗi lòng người đọc mai sau xúc động dâng trào, vì họ mà thương cảm, vì họ mà nhỏ lệ.
Cuộc đời Diệu Ngọc đúng là bi kịch , cái bi kịch ấy chính là bi kịch của tính cách, bi kịch của thời đại. Tào Tuyết Cần nêu ra cái bi kịch ấy một cách hình tượng mà sâu sắc qua lời phán từ và đoản khúc về cô như sau:

Muốn sạch mà không sạch.
Rằng không chửa hẳn không.
Thương thay mình vàng ngọc,
Bùn lầy sa vào trong.

Lan ví chất, tiên ví tài,
Chỉ hiềm cô tịch, tình trời bẩm sinh.
Cho là ăn thịt(23) hôi tanh,
Lụa the, là lượt, coi khinh không thèm.
Biết đâu cao quá. đời ghen,
Biết đâu sạch quá, đời khen da mà.
Đàn xanh, đền cổ, nguờí già,
Uổng công trang điểm, xuân đà kém xuân.
Ngán cho cái kiếp phong trần,
Sau này cũng lại xấu dần mãi đi.
Ngọc kia bùn trát đen sì,
Vương tôn công tử còn gì là duyên.

Lời phán từ và đoản khúc “thế nan dung” nêu trên ca ngợi tính cách trong sạch thanh cao, tài năng xuất chúng của Diệu Ngọc đã dự báo một kết cục bi thảm, có nghĩa là tác giả hầu như có mối đồng cảm sâu sắc đối với nhân vật nữ bất hạnh này, đọc lên đôi khi khiến người ta rơi lệ.

Tuesday April 17, 2007 – 08:59pm (ICT)

TÂM HƯỚNG HỒNG TRẦN VÀ TÂM HƯỚNG PHẬT MÔN
(Mạn đàm HLM)

Phần 2: Tích Xuân
Tích Xuân là một trong 4 tiểu thư của Giả phủ, cô là con của Giả Kính, và em ruột của Giả Trân. Con đường cô theo đuổi hoàn toàn khác với Diệu Ngọc: thân tuy ở hồng trần nhưng tâm hướng cõi Phật, và cuối cùng cô đã rời bỏ trần tục mà xuất gia đầu phật.
Tên của Tích Xuân được nói đến lần đầu ở hồi thứ 2 nhưng đến hồi thứ ba mới ra mặt, tiểu thuyết miêu tả rất ít về cô, nhưng không vì tình tiết, sự chuyện ít oi mà tính cách không bộc lộ. Tiểu thuyết lợi dụng cái ít oi về khuôn khổ và sự chuyện ấy mà khắc họa đặc trưng tính cách cô độc, lãnh đạm của cô.
Từ nhỏ, Tích Xuân không có mẹ, cha là Giả Kính thì chỉ lo tu đạo cầu tiên, nên nàng mất hẳn tình yêu thương ấp ủ của cha và mẹ từ lúc còn tấm bé. Cũng may sau này Giả mẫu đem về ở cạnh mình nuôi nấng dạy bảo. Tuy có anh ruột và chị dâu nhưng cô không muốn qua lại với họ. Cách sống ấy khiến cô trở thành cô độc, tất cả đối với cô đều trở nên lạnh nhạt.
Ở hồi thứ 3, cô cùng xuất hiện với Nghênh Xuân, Thám Xuân, tiểu thuyết tả cô và hai chị cùng trang điểm giống nhau, nhưng cô “vóc người chưa cao, thân hình còn nhỏ” điều này chứng tỏ Tích Xuân tuổi còn rất íy, đóa hoa nhỏ nhoi ấy còn chưa nở thì tính cách đã có gì để nói.
Đến hồi thứ 7, bà Chu đem cung hoa cho Tích Xuân ở chi tiết này, tiểu thuyết viết:
Chỉ gặp Tích Xuân đang cười đùa với sư cô Trí Năng ở am Thủy Nguyệt. Trông thấy bà Chu đến, Tích Xuân hỏi có việc gì. Bà Chu mở hộp ra nói việc Tiết phu nhân sai đem hoa đến cho. Tích Xuân cười nói:
– Tôi đương nói với Trí Năng, ngày mai sẽ cắt tóc theo cô ấy đi tu. Rõ khéo chưa? Giờ lại mang hoa đến! đã cắt tóc thì còn cài hoa vào đâu nữa?
Mọi người cười ầm lên, Tích Xuân sai a hoàn cất hoa đi.
Qua chi tiết trên, tác giả đã khắc họa một cách hình tượng nét vui thú ngây thơ , hồn nhiên mộc mặc, trong sáng ngay thẳng của Tích Xuân, rất có cá tính, đồng thời bản thân ngôn ngữ cũng rất dí dỏm, trong đó câu nói “ngày mai sẽ cắt tóc theo cô ấy đi tu” là một lời dự đoán sau này tác phẩm sẽ miêu tả cô xuất gia đầu Phật.
Lúc Nguyên Xuân về tỉnh thân, Tích Xuân cùng với các chị “tùy theo thứ tự ra mắt”. Cô đã làm bài thơ rằng:

Non nước bao quanh mấy dặm dài
Lâu đài cao ngất giữa từng mây
Sánh cùng nhật nguyệt cùng tươi sáng
Bác thợ trời kia cũng kém tài

Tuổi nhỏ, thơ chuẩn và rất có khí thế, mà cảm nhận về hình ảnh cũng rất mạnh đồng thời có chú ý vận dụng sự biến hóa của không gian, màu sắc, cảnh quang, bài thơ có chất thi họa kết hợp chất tài tình. Tác giả mượn đó để sau này miêu tả chi tiết Tích Xuân vẽ “Đại Quan viên hành lạc đồ”, đấy cũng là cách thiết kế tác phẩm.
Hồi thứ 22, Tích Xuân làm câu đố đèn nhân ngày nguyên tiêu như thế này:

”Kiếp trước long đong ngán phận mình
Nghe ca không thích thích nghe kinh
Đừng cho thân đã chìm trong bể
Tính vẫn còn nguyên chữ tính linh”

Cuối câu đó là lời giải: “Phật tiên hải đăng” (cây đèn biển trước tượng Phật). Gọi là “Phật tiền hài đăng” tức là cây đèn lớn treo trước tượng Phật ở các đèn chùa, miếu vũ, bụng đèn chứa đầy dầu, một ngọn lữa cháy lên tuy không tỏa sáng lắm nhưng sáng mãi không tắt rõ ràng câu đố đèn ấy là một lời sấm ngữ, dự đoán sau này Tích Xuân xuất gia làm ni cô, điều này cộng với lời nói của cô ở hồi thứ 7 là hoàn toàn khớp nhau.
Về tình tiết, sự chuyện của Tích Xuân tập trung ở hai nơi. Một ở hồi thứ 40 và 42, một ở hồi thứ 74 “Thề giữ đoan nghiêm rào lấp phủ Ninh quốc”.
Hồi thứ 40 và 42 chủ yếu thể hiện tài năng nghệ thuật của Tích Xuân, giỏi hội họa. Tích Xuân dần dần lớn lên, cô có tham gia “Hải đường thi xã” với biệt hiệu là Ngẫu Tạ. Trong hoạt động của thi xã , cô không làm thơ mà nhiệm vụ chủ yếu là tinh tả và giám sát. Nhưng về hội họa cô là sở trường. Cô là người biết vẽ duy nhất trong số các chị em. Bảo Thoa tuy hiểu rộng biết nhiều về hội họa, nhưng tiểu thuyết không miêu tả khả năng thực tế về hội họa của nàng, và nàng cũng chưa từng vẽ bao giờ. Bà Lưu đến Đại Quan viên mới làm cho những người ở trong vườn mở rộng tầm nhìn khi bà cảm khái nói ra cái vườn này còn đẹp hơn cả một bức tranh rồi đem cho bà con ở quê nhìn ngắm thì có chết cũng mãn nguyện. Giả mẫu nghe thế rất cao hứng liền chỉ qua Tích Xuân và nói với bà Lưu: “Bà xem, con cháu nội tôi đây, nó biết vẽ đấy. Mai mốt bảo nó vẽ một bức bà thấy thế nào?” Bà Lưu nghe nói, vui vẻ chạy lại cầm tay Tích Xuân nói: “Cô ơi! Cô mới chừng ấy tuổi, mà vừa xinh đẹp lại vừa có tài vẽ, chẳng phải là thần tiên giáng thế hay sao?” Tiếp đó, tiểu thuyết còn đề cập trên đến mấy lần Giả mẫu quan tâm đến bức họa đó như thế nào, và đích thân chỉ thị cần phải vẽ người lên bức họa giống như một bức tranh đang vui chơi thật. Thế là các chị em cùng bàn bạc công tác chuẩn bị ra sao.Chung quanh chuyện vẽ bức tranh này như thế nào, tiểu thuyết đã khắc họa được đặc trưng tính cách của một số nhân vật đồng thời chú trọng nêu ra một số mặt trái thường ít thấy của một số nhân vật. Nhưng bức tranh ấy Tích Xuân cũng chưa vẽ xong, có phải vì Tào Tuyết Cần chưa tả kịp chăng? Hay tác giả không có ý tả tiếp nữa? Hoặc giả trong đó có một nguyên nhân nào khác chăng? Điều đó, đã trở thành một cái áo treo vậy. Chúng tôi cho rằng cứ như tính cách cô độc, lạnh nhạt của Tích Xuân cộng thêm với những biến cố sau này của phủ họ Giả, cô không thể vẽ bức tranh ấy ra được. Trước đấy Đại Ngọc đã từng trêu đùa Tích Xuân: “- Cứ lẽ ra thì một năm cũng chẳng lấy gì làm nhiều, cái vườn này một năm mới xây dựng xong. Bây giờ muốn vẽ cũng phải mất hai năm, vì còn phải mài mực dầm bút, trải giấy, tô màu, lại còn phải… Lại còn phải theo đúng kiểu, thong thả vẽ, thế mà không đến hai năm à.” Còn nữa, Bảo Thoa kê một danh mục dài dằng dặc và nói một thôi lý luận về hội họa , hầu như đều muốn ngầm bảo bức tranh vui chơi ấy không thể ra đời được, tiểu thuyết chẳng qua chỉ mượn cớ để tả người mà thôi.
Hồi thứ 74 tập trung khắc họa đặc điểm tính cách cô độc, lãnh đạm của Tích Xuân. Cô vốn không thích với mọi người, lại không muốn hỏi han chuyện này, chuyện khác, cô chỉ thích đắm mình trong sách vẽ, sách cờ. Nhưng sự kiện tra xét Đại Quan Viên đã đẩy cô vào cuộc thị phi. Chuyện tranh cãi ầm ỹ này thực chất chỉ là quyền lợi gia chính giữa hai chị em dâu Vương phu nhân và hình phu nhân nhưng kết quả lại là sự ngược đãi và trục xuất một loạt những đứa hầu gái, trong đó có Nhập Họa a hoàn của Tích Xuân. Lý do vì trong rương của Nhập Họa khi soát xét thấy một bao lớn ba bốn chục khóa bạc, một cái đai ngọc và một bọc bít tất đàn ông. Thật ra đó là những thứ của Giả Trân thưởng cho anh của Nhập Họa. Vương Hy Phượng và Vưu thị cho là Nhập họa thực giữ hộ cho anh , tuy có sai nhưng cũng có thể dung thứ và nói sau này không được làm như thế nữa. Nhưng Tích Xuân lại không tha cho Nhập Họa, cô cho rằng những thứ ấy từ chỗ anh ruột và chị dâu mang về đã làm mất mặt mình, và sợ anh chị ấy ở phủ Ninh Quốc cho mình không sạch nên cô yêu cầu Vương Hy Phượng xử trí Nhập Họa, buộc Vưu thị đem Nhập Họa đi, thậm chí còn nói: “- Tôi chả biết gì cả. Như thế sao được! Chị Hai muốn đánh nó, cứ việc lôi nó ra mà đánh. Những câu nó nói, tôi nghe chối cả tai.” Và “- Chị đừng tha nó, ở đây nhiều người, nếu không trừng trị, những đứa lớn trông thấy, không biết còn xảy ra thế nào nữa kia. Chị tha nó, tôi cũng không tha!”. Thế rồi tiến đến cắt đứt quan hệ với anh và chị dâu. Do đó Vưu thị mới nói Tích Xuân là con người “vô tình lạnh nhạt”. Tiểu thuyết thông qua chi tiết này đã khắc họa đặc trưng tính cách cô độc tự trọng, nhát gan, sợ chuyện, chỉ lo cho mình, lạnh nhạt vô tình của Tích Xuân.
Trong chuyện này , khi Tích Xuân và Vưu Thị tranh cãi.:
Vưu Thị nghe nói, vừa tức, vừa buồn cười, nói với mọi người đứng ở đấy:
– Thảo nào ai cũng bảo cô Tư trẻ tuổi hồ đồ
Tích Xuân cười nhạt:
– Tuổi tôi tuy còn thơ ngây, nhưng lời nói thì không thơ ngây đâu. Các người không học, không biết chữ, đều là hạng ngốc cả, thế lại bảo tôi hồ đồ!
Vưu Thị nói:
– Cô là trạng nguyên, thám hoa, là tài tử hạng nhất! Chúng tôi chỉ là hạng người lẩn thẩn, không được sáng suốt như cô!
– Trạng nguyên, thám hoa mà không có người lẩn thẩn à? Thế mới biết các chị đều là người tục cả.
– Giỏi lắm, giỏi lắm! Vừa mới là tài tử, giờ lại thành ra hòa thượng bàn đến giác ngộ rồi.(1)
– Tôi chẳng giác ngộ gì cả. Tôi xem người bây giờ đều như hạng Nhập Họa hết.
Trong đoạn đối thoại này, có thể thấy tác giả ngầm bảo với chúng ta sau này Tích Xuân sẽ rời bỏ chốn hồng trần để theo Phật tổ.
Tích Xuân với vẻ vô tình lạnh nhạt ấy quan sát mọi việc xảy ra chung quanh cô, cô thấy được cái buồn trong niềm vui khi chị cả nguyên Xuân về tỉnh thân, thấy được chị hai Nghênh Xuân sau khi lấy Tôn Triệu Tổ sẽ bị ngược đãi, thấy được chị ba Thám Xuân lấy chồng xa không thể trở về nữa. Ngoài ra cô còn thấy được Tương vân sớm trở thành góa bụa, Đại Ngọc sẽ chết yểu, thậm chí còn thấy được phủ Giả bị tra xét. Tất cả thật đáng sợ và đáng buồn! Còn số phận của cô sẽ như thế nào?Ắt hẳng cô không thể không lo nghĩ

“Biết rõ ba xuân cảnh chóng già
Thời trang đổi lấy áo cà sa
Thương thay con gái nhà khuê các
Một ngọn đèn xanh cạnh Phật bà”

Thái độ lãnh đạm đối với thế sự nhân tình như vậy của Tích Xuân nhất là sau khi thấy nhà họ Giả suy bại, tất nhiên lòng cô nguội lạnh, muốn bỏ đời theo Phật, đúng như bức họa ở mặt sau lời phán từ trong hồi thứ 5: “vẽ một tòa miếu cổ, trong miếu có một mỹ nhân ngồi xem kinh”. Đó chính là kết cục của Tích Xuân.
Miêu tả kết cục của Tích Xuân ở những 40 hồi sau của tác giả tục biên, về cơ bản gần như trung thực với nguyên ý của Tào Tuyết Cần. Nhưng không phải Tích Xuân đến tu ở một ngôi miếu cổ mà đến tu ở am Lũng thúy trong Đại Quan Viên ngay chỗ Diệu Ngọc đã tu tĩnh cho nên chất bi kịch có phần nhạt bớt đi. Trong khi đó Diệu Ngọc từ am Lũng thúy ra đi, trở về với chốn hồng trần còn Tích Xuân thì bước vào am lũng thúy đi theo với Phật tổ.
Tóm lại cho dù Diệu Ngọc thân tại cửa Phật mà tâm đã hướng hồng trần thì rốt cuộc cũng phải ra khỏi cõi Phật để thao về với cõi trần, còn tích Xuân tâm đã hướng cõi Phật thì cuối cùng cũng theo về với Phật tổ. Kết cục của họ cũng đều là bi kịch, có thể nói là bi kịch của tính cách, cũng là bi kịch của thời đại. Kết cục bi thảm của hai người xem ra không giống nhau nhưng kỳ thực chỉ là một, bất luận họ đi theo con đường nào kết cục vẫn bi thảm vậy.

Advertisements

Leave a Comment »

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Create a free website or blog at WordPress.com.
Entries and comments feeds.

%d bloggers like this: